Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BA ĐỒN

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 24/2024/TCDS-ST

Ngày 25 - 9 - 2024

V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Tình

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hoàng Công Nghĩa
  2. Bà Trần Thị Ngọc Lan

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Như Bình - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh - Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 27/2024/TLST-TCDS ngày 10/5/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST-TCDS ngày 22/8/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ. Địa chỉ: T, số A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc L - Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Thanh H - Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đ.

Người được ủy quyền lại: Bà Nguyễn Việt H1 - Chuyên viên Phòng Q chi nhánh Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ. Địa chỉ: Số 332A, đường Quang Trung, phường Ba Đồn, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình

  1. Bị đơn: Ông Phạm C, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1980. Cùng trú tại: Thôn C, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình.

2

Người đại diện theo uỷ quyền cho Bị đơn:

  • + Ông Nguyễn Tiến P, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình.
  • + Bà Nguyễn Thị Thu P1, sinh năm 1999. Nơi cư trú: Thôn C, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình.

Tại phiên toà, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt, bị đơn có mặt, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung của Đơn khởi kiện đề ngày 05/4/2024, Bản tự khai, Biên bản hoà giải và tại phiên tòa, đại diện cho nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng B) và ông Phạm C, bà Nguyễn Thị H2 đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 01/2016/8266855/HĐTD ngày 25/4/2016 và Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 01/2016/8266855/VBSĐ ngày 04/4/2017. Theo đó, ông C, bà H2 đã vay của Ngân hàng B số tiền là 17.573.000.000 đồng; thời hạn vay là 192 tháng; nhằm mục đích vay dài hạn để đóng mới tàu cá vỏ thép khai thác hải sản xa bờ theo đúng nội dung bản vẽ thiết kế đã được Trung tâm đăng kiểm tàu cá - T phê duyệt theo phiếu sao duyệt thiết kế kỹ thuật tàu cá số 21SD/16 - ĐKTC ngày 28/01/2016; khái toán được lập bởi Công ty TNHH C1 và đã được Công ty cổ phần thông tin và thẩm định giá miền N thẩm định giá theo chứng thư thẩm định giá số Vc 16/4/26/ĐS-NAQB. Lãi suất vay quy định cụ thể theo hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên.

Thực hiện theo hợp đồng, ông C đã đại diện ký các bảng kê rút vốn để rút vốn 08 lần với tổng số tiền rút vốn là 17.573.000.000 đồng.

Để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của mình, ông C, bà H2 đã sử dụng các tài sản sau để đảm bảo vay vốn tại Ngân hàng, cụ thể:

  • + 01 Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại thửa đất số 275, tờ bản đồ số 3 tại thôn C, xã Q, thị xã B, Quảng Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS 328517, số vào sổ cấp GCN: CH02580 do Ủy ban nhân dân huyện Q cấp ngày 30/12/2013 cấp cho ông Phạm Cbà Nguyễn Thị H2 theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2016/8266855/HĐBĐ ngày 11/05/2016 ký giữa ông Phạm Cbà Nguyễn Thị H2 với Phòng G - Ngân hàng B - Chi nhánh B1 đã được chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã Q ngày 11/05/2016, số chứng thực: 65, quyển số 01. Đăng ký thế chấp ngày 12/05/2016 tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Ủy ban nhân dân thị xã B (Nay là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã B) theo đúng quy định.
  • + 01 Tàu cá vỏ thép khai thác thủy hải sản cùng toàn bộ trang thiết bị, ngư lưới

3

cụ được đóng mới theo Nghị định 67/2014/NĐ - CP của Thủ tướng Chính phủ ngày 07/7/2014 của ông Phạm C theo Giấy chứng nhận đăng ký tàu cá có số đăng ký QB - 98688 - TS được Chi cục thủy sản tỉnh Q cấp ngày 26/12/2016 theo Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai số 01/2016/8266855/HĐBĐ ngày 05/5/2016 ký giữa ông Phạm C, bà Nguyễn Thị H2 với Ngân hàng B - Chi nhánh B1 đã được chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã Q ngày 05/5/2016, số 60, quyển số 01, đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại Thành phố Đà Nẵng ngày 09/5/2016 và Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp số 01/2016/8266855/SĐBS ngày 30/12/2016 ký giữa ông Phạm C, bà Nguyễn Thị H2 với Ngân hàng B - Chi nhánh B1 đã được chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã Q ngày 30/12/2016, số 184, quyển số 01, đăng ký thay đổi nội dung đã đăng ký tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại Thành phố Đà Nẵng ngày 19/01/2017 theo đúng quy định.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông C, bà H2 đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo cam kết và để phát sinh nợ quá hạn tại Ngân hàng vào ngày 15/10/2018.

Hiện tính đến hết ngày 24/9/2024, ông C, bà H2 còn nợ N nhàng B số tiền là 20.777.003.324 đồng (Trong đó, nợ gốc là: 16.008.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là: 4.333.121.275 đồng; nợ lãi quá hạn là 435.882.049 đồng).

Vì vậy, Ngân hàng B khởi kiện đến Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn yêu cầu buộc ông C, bà H2 phải thanh toán cho Ngân hàng B toàn bộ số tiền nợ nói trên và số tiền lãi phát sinh kể từ ngày 25/9/2024 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ vay cho Ngân hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết. Trường hợp ông C, bà H2 không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng B có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi toàn bộ số nợ cho ngân hàng. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán hết dư nợ vay thì ông C, bà H2 có nghĩa vụ tiếp tục sử dụng mọi tài sản và thu nhập hợp pháp khác để thanh toán hết số tiền nợ còn lại cho Ngân hàng.

Tại bản tự khai và biên bản hòa giải đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Nguyễn Thị Thu P1ông Nguyễn Tiến P trình bày:

Thừa nhận quá trình vay nợ, thế chấp tài sản và số tiền hiện còn nợ đúng như Ngân hàng B đã khởi kiện bị đơn ông C, bà H2. Tuy nhiên, do điều kiện làm ăn kinh tế hiện nay còn khó khăn nên đại diện bị đơn đề nghị xin giảm lãi và ưu tiên xử lý tài sản thế chấp là tàu cá. Đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, đề nghị Toà án tuyên bố Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2016/8266855/HĐBĐ ngày 11/5/2016 ký giữa ông C, bà H2 với Ngân hàng B là vô hiệu, với lý do: Tài sản gắn liền với thửa đất số 275, tờ bản đồ số 3 tại thôn C, xã

4

Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bìnhông C, bà H2 đã thế chấp là căn nhà cấp 3 chưa được cập nhật sở hữu công trình, chưa được ghi nhận trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không đáp ứng điều kiện tham gia giao dịch thế chấp; do đó, việc thế chấp nhà ở, công trình trên thửa đất này là trái quy định pháp luật theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 118 Luật Nhà ở năm 2014 và mục 7, phần III, Công văn số 196/TANDTC-PC ngày 03/10/2023 của Toà án nhân dân tối cao giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong công tác xét xử.

Tại phiên tòa, bị đơn ông Phạm Cbà Nguyễn Thị H2 cùng thống nhất thừa nhận: vợ, chồng ông, bà đã cùng ký Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ Chi nhánh B1 để vay số tiền 17.573.000.000 đồng. Để đảm bảo cho khoản vay, ông, bà đã thế chấp cho ngân hàng các tài sản gồm 01 tàu vỏ thép và 01 quyền sử dụng đất thuộc quyền sở hữu của ông, bà. Các thông tin của Hợp đồng tín dụng và tài sản thế chấp đúng như phía đại diện Ngân hàng đã trình bày tại phiên tòa. Việc ký kết các Hợp đồng giữa vợ chồng ông, bà với Ngân hàng là hoàn toàn tự nguyện, đảm bảo đúng quy định của pháp luật, không có sự lừa dối hay cưỡng ép. Quá trình vay vốn, ông, bà chỉ mới thực hiện nghĩa vụ trả cho Ngân hàng một khoản tiền gốc và lãi phát sinh. Do công việc làm ăn khai thác hải sản gặp khó khăn, nên kể từ tháng 10 năm 2018 đến nay, ông, bà không có khả năng để trả nợ cho Ngân hàng, vì vậy đã để dẫn đến quá hạn khoản vay. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông, bà trả nợ số nợ gốc và khoản tiền lãi phát sinh thì ông, bà không có ý kiến gì. Do không có khả năng trả nợ nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật đồng thời đề nghị phía Ngân hàng sớm xử lý con tàu mà ông, bà đã thế chấp để thu hồi nợ, vì hiện con tàu đang neo đậu tại chỗ không hoạt động nên để lâu sẽ bị hư hỏng, giảm giá trị.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

  • - Về tố tụng: quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn tuân thủ nghiêm chỉnh sự triệu tập của Tòa án, thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn, đại diện theo ủy quyền của bị đơn đã không chấp hành theo sự triệu tập của Tòa án, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ ngày 09/9/2024 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn tiếp tục vắng mặt, nhưng bị đơn có mặt và có ý kiến không tiếp tục ủy quyền mà tự mình tham gia tố tụng để giải quyết vụ án. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử vụ án.
  • - Về nội dung: Thấy rằng yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 116, 117, 299, 317, 319, 320, 322, 398, 401, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự; các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 147, Điều 157, Điều 158 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số

5

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông C, bà H2 phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng B tính đến hết ngày 24/9/2024 với tổng số tiền là: 20.777.003.324 đồng (Trong đó, nợ gốc là: 16.008.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là: 4.333.121.275 đồng; nợ lãi quá hạn là 435.882.049 đồng).

Trong trường hợp bị đơn không trả được nợ thì đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng B theo quy định của pháp luật. Buộc bị đơn phải chịu toàn bộ án phí và chi phí tố tụng theo quy định. Trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về tố tụng:
    • [1.1] Về quan hệ tranh chấp: Ông Phạm C, bà Nguyễn Thị H2 ký kết Hợp đồng tín dụng số 01/2016/8266855/HĐTD ngày 25/4/2016 với Ngân hàng B là hợp pháp, phù hợp theo quy định tại Điều 398 Bộ luật Dân sự. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông C, bà H2 đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo như thỏa thuận trong hợp đồng. Như vậy, Hội đồng xét xử xác định tranh chấp trên là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
    • [1.2] Về thẩm quyền giải quyết: ông Phạm Cbà Nguyễn Thị H2 có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn C, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vì vậy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.
    • [1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa vắng mặt người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, tuy nhiên bị đơn ông C, bà H2 có mặt và có ý kiến không tiếp tục ủy quyền mà tự mình tham gia tố tụng để giải quyết vụ án. Vì vậy căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự để xét xử vụ án.
  2. Về yêu cầu của nguyên đơn:

    Theo yêu cầu khởi kiện, lời trình bày của phía nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định: Giữa Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh B1 - Phòng Gông Phạm C, bà Nguyễn Thị H2 đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 01/2016/8266855/HĐTD ngày 25/4/2016; Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 01/2016/8266855/VBSĐ ngày 04/4/2017. Phía Ngân hàng đã giải ngân số tiền vay cho ông C, bà H2 theo Hợp đồng là 17.573.000.000 đồng. Để bảo đảm cho khoản vay này, ông C, bà H2 đã thế chấp cho Ngân hàng 01 con tàu vỏ thép, theo Hợp đồng thế

6

chấp tài sản hình thành trong tương lai số 01/2016/8266855/HĐBĐ ngày 05/5/2016; Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp số 01/2016/8266855/SĐBS ngày 30/12/2016 và quyền sử dụng đất theo hợp thế chấp bất động sản số 01/2016/8266855/HĐBĐ ngày 11/05/2016. Các Hợp đồng thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định. Như vậy, Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp tài sản có nội dung và hình thức phù hợp với quy định pháp luật, là hợp đồng hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

Theo các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và phía bị đơn thừa nhận, thể hiện trong quá trình thực hiện hợp đồng, bên vay ông Phạm Cbà Nguyễn Thị H2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi, nên Ngân hàng đã chuyển khoản vay thành nợ quá hạn và tính lãi trong hạn, quá hạn với mức lãi suất, thời gian vi phạm theo đúng thoả thuận trong hợp đồng đã ký kết. Bảng tính lãi trong hạn và lãi quá hạn do Ngân hàng cung cấp đã tính đúng số ngày, mức lãi suất áp dụng trong hợp đồng tín dụng.

Từ những nhận định trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ vào các Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 116, 117, 299, 317, 319, 320, 322, 398, 401, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ (B). Buộc ông Phạm Cbà Nguyễn Thị H2 phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng B số tiền nợ 20.777.003.324 đồng (Trong đó, nợ gốc là: 16.008.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là: 4.333.121.275 đồng; nợ lãi quá hạn là 435.882.049 đồng).

Kể từ ngày xét xử sơ thẩm (25/9/2024) ông C, bà H2 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

Xét quan điểm, đề xuất của Kiểm sát viên tại phiên tòa về hướng giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Do hợp đồng thế chấp giữa hai bên đã có hiệu lực để thi hành nên trong trường hợp ông C, bà H2 không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng B yêu cầu Tòa án tuyên quyền xử lý tài sản thế chấp và tài sản phát sinh sau khi ký kết hợp đồng để thu hồi toàn bộ số nợ cho Ngân hàng B; nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán hết dư nợ vay thì ông C, bà H2 có nghĩa vụ tiếp tục sử dụng mọi tài sản và thu nhập hợp pháp khác để thanh toán hết số tiền nợ còn lại cho Ngân hàng là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 299 Bộ luật Dân sự nên cần được chấp nhận.

  1. Về chi phí tố tụng:

7

Trong giai đoạn tố tụng, Ngân hàng đã nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền 3.000.000 đồng; quá trình xem xét, thẩm định tại chỗ đã chi phí số tiền 3.000.000 đồng; yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được Hội đồng xét xử chấp nhận nên ông C, bà H2 phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định tại Điều 157, Điều 158 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Cần buộc ông C, bà H2 có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng số tiền 3.000.000 đồng.

  1. Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng B được chấp nhận nên ông C, bà H2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn Ngân hàng B theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158, khoản 1 Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 116, 117, 299, 317, 319, 320, 322, 398, 401, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ: buộc ông Phạm C, bà Nguyễn Thị H2 phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền còn nợ tính đến hết ngày 24/9/2024 là 20.777.003.324 đồng (Trong đó, nợ gốc là: 16.008.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là: 4.333.121.275 đồng; nợ lãi quá hạn là 435.882.049 đồng).

Kể từ ngày xét xử sơ thẩm (25/9/2024) trở đi, ông Phạm Cbà Nguyễn Thị H2 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Trường hợp ông Phạm C, bà Nguyễn Thị H2 không trả được toàn bộ số nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ được quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình xử lý các tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ số nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ, cụ thể:

8

  • - 01 quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 275, tờ bản đồ số 3 tại thôn C, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình, có diện tích 238m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BS 328517, số vào sổ cấp GCN: CH02580 do Ủy ban nhân dân huyện Q (Nay là Ủy ban nhân dân thị xã B), tỉnh Quảng Bình cấp ngày 30/12/2013 cấp cho ông Phạm Cbà Nguyễn Thị H2 và tài sản gắn liền với thửa đất nói trên theo thực tế là một ngôi nhà cấp 4, có 1 tầng và 1 gác lửng, có tổng kích thước 158,72m².
  • - 01 Tàu cá vỏ thép khai thác thủy hải sản cùng toàn bộ trang thiết bị, ngư lưới cụ được đóng mới theo Nghị định 67/2014/NĐ - CP của Thủ tướng Chính phủ ngày 07/7/2014 của ông Phạm C theo Giấy chứng nhận đăng ký tàu cá có số đăng ký QB - 98688 - TS được Chi cục thủy sản tỉnh Q cấp ngày 26/12/2016.
  1. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Phạm C, bà Nguyễn Thị H2 phải chịu. Ngân hàng Thương mại Cổ phần B đã nộp tạm ứng số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) đã chi hết. Nay buộc ông Phạm C, bà Nguyễn Thị H2 phải có trách nhiệm hoàn trả lại cho Ngân hàng.
  2. Về án phí:
    • - Buộc ông Phạm C, bà Nguyễn Thị H2 phải nộp 128.777.003 đồng (Một trăm hai mươi tám triệu bảy trăm bảy mươi bảy nghìn không trăm linh ba đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.
    • - Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền tạm ứng án phí 64.001.414 đồng (Sáu mươi tư triệu không trăm linh một nghìn bốn trăm mười bốn đồng) mà Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003332 ngày 09/5/2024.

    Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.”

  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/9/2024)./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;
  • - Chi cục THADS thị xã Ba Đồn;
  • - VKSND thị xã Ba Đồn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

9

Phạm Hữu Tình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/TCDS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 24/2024/TCDS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam - Phạm Chương, Nguyễn Thị Học: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger