Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VĨNH CHÂU

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 24/2024/HS-ST

Ngày 25/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Minh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Huỳnh Hoa
  2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Khiết Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Duẩn- Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Trần Văn H (tên gọi khác: H chín ngón); sinh ngày 01/01/1984 tại V, Sóc Trăng; nơi cư trú: Khóm V, phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Làm công; trình độ văn hoá (học vấn): 02/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần L (s) và bà Huỳnh Thị H1 (s); vợ: Trần Thị Cành N; con: 03 người con con; tiền tiền sự: Không.

Tiền án: Vào ngày 17 tháng 11 năm 2009, bị cáo bị Tòa án nhân dân Quận 5, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đến ngày 28 tháng 03 năm 2010, bị cáo đã chấp hành xong. Tuy nhiên, về phần bồi thường trách nhiệm dân sự cho bị hại đã được tuyên trong bản án với số tiền 3.500.000 đồng, thì vào ngày 26 tháng 04 năm 2013, bị cáo mới bồi thường cho bị hại được số tiền 200.000 đồng, số tiền còn lại 3.300.000 đồng và lãi chậm trả cho phía bên bị hại đến thời điểm hiện nay thì bị cáo chưa thực hiện xong, nên đến lần phạm tội này bị cáo chưa được xóa án tích.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25 tháng 01 năm 2024 cho đến nay.

2. Huỳnh H2 (tên gọi khác: H3); sinh ngày 01/01/1984 tại V, Sóc Trăng; nơi cư trú: Khóm V, phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Làm công; trình độ văn hoá (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh M (c) và bà Thị V (s); vợ, con: Chưa có; tiền án: Không, tiền sự: Không.

Nhân thân: Vào ngày 07 tháng 07 năm 2017, bị Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, đến ngày 13 tháng 11 năm 2018, bị cáo đã chấp hành xong, đến lần phạm tội này bị cáo đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/4/2024 cho đến nay (bị cáo có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn H và bị cáo Huỳnh H2: Ông Nguyễn Văn B – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S (có mặt).

3. Hứa Hữu L1 (tên gọi khác: Không ); sinh ngày 22/01/2005 tại V, Sóc Trăng; nơi cư trú: Khóm B, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Nuôi tôm; trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hứa Thành T (s) và bà Thạch Thị Sà V1 (s); vợ: Trần Thị Ngọc Y và 01 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02 tháng 01 năm 2024 cho đến nay.

* Bị hại: Trần Thanh T1; sinh năm: 1977 (vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp Đ, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chung Trịnh Gia A; sinh năm: 2003 (vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp T, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng

- Người phiên dịch tiếng Khmer: Ông Sơn K – Cán bộ hưu trí Ủy ban nhân dân thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 29 tháng 12 năm 2023, Hứa Hữu L1 cùng Trần Văn H và Huỳnh H2 đang có mặt tại nhà của H, thuộc khóm V, phường B, thị xã V. Do bản thân của L1, H và H2 không có nghề nghiệp ổn định, không có tiền tiêu xài cá nhân, nên lúc này H đã rủ L1 và H2 đi tìm tài sản của người khác lấy

trộm để bán là tiêu xài cá nhân thì L1 và H2 đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe mô tô loại Wave, màu đỏ, mang biển số 6184 – 0775 để chờ L1 ngồi giữa và H2 ngồi sau cùng nhằm mục đích đi tìm tài sản của người khác lấy trộm, lúc này H điều khiển xe chạy đi theo đường lộ nhựa theo hướng từ phường B đi qua xã V, thị xã V. Khi H điều khiển xe chở L1 và H2 đến trước nhà của anh Trần Thanh T1, tại ấp Đ, xã V, thị xã V thì cả ba người nhìn thấy phía trước sân nhà của anh T1 có để một chiếc xe mô tô, loại xe Future FI, màu trắng đen, mang biển số 83V1 – 121.92, nhưng không có người trông giữ, nên lúc này H, L1 và H2 này sinh ý định lấy trộm xe mô tô của T1. H dừng xe mô tô, đồng thời H và H2 kêu L1 đi đến vị trí dựng xe mô tô của T1 để lấy trộm, còn H và H2 thì đứng phía bên ngoài để canh đường thì L1 đồng ý nên L1 đã lén lút đi đến vị trí dựng xe mô tô của anh T1 rồi dẫn bộ xe ra ngoài đường đến vị trí mà H và H2 đang dừng xe để đợi, sau khi dẫn xe mô tô ra ngoài đường lộ thì L1, H và H2 phát hiện trên xe mô tô của anh T1 đang được cắm sẵn chìa khóa trong xe, nên L1 đã lên xe mô tô rồi nổ máy một mình điều khiển đem đi về nhà của H tại khóm V, phường B, thị xã V cất giấu, khi điều khiển xe về đến nhà của H thì một mình L1 mở cốp xe mô tô mang biển số 83V1 – 121.92 của anh T1 thì phát hiện bên trong cốp xe có số tiền Việt Nam là 230.000 đồng nên L1 đã lấy số tiền này bỏ vào túi cất giữ, nhằm mục đích để tiêu xài cá nhân. Sau khi L1 điều khiển về đến nhà của H thì L1 và H đã trực tiếp tháo biển số xe cùng dàn áo mù hai bên của xe mô tô đã lấy trộm được ra khỏi xe mô tô và đem giấu dưới giường ngủ trong nhà của H, đến tối cùng ngày L1 đã dùng điện thoại di động gọi cho một người bạn có tên H4 (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) để nhờ bán xe mô tô giúp cho L1, khi L1 gọi điện thoại cho H4 thì L1 đã đưa điện thoại cho H nói chuyện với H4, H đã nói với H4 là bán xe mô tô vừa lấy trộm được với giá 5.000.000 đồng thì H4 đồng ý và kêu L1 điều khiển xe mô tô đi đến ấp P, xã L, thị xã V để xem xe, H kêu L1 và H2 điều khiển xe đến gặp H4, nên L1 và H2 đã đồng ý đi, khi đi thì L1 điều khiển xe Future FI đã lấy trộm được của anh T1, còn H2 thì điều khiển xe Wave màu đỏ của H để đi đến ấp P, xã L để gặp H4, khi L1 đang trên đường điều khiển xe đi đến địa phận phường V, thị xã V thì gặp lực lượng Công an phường Vĩnh Phước, thị xã V đang tiến hành tuần tra phát hiện L1 điều khiển xe không có dàn mũ áo xe và xe không có biển số, nên đã yêu cầu L1 dừng phương tiện để kiểm tra và làm việc. Tại Công an phường L đã khai nhận vừa lấy trộm xe tại xã V cùng với H và H2 đang trên đường điều khiển đi tìm chỗ để bán thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ và tạm giữ đồ vật có liên quan.

Tại bản kết luận định giá tài sản số E, ngày 31 tháng 12 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thị xã V, kết luận: 01 xe mô tô loại xe Future FI, màu trắng đen, số máy JC90E0215821, số khung

RLHJC7653MY113228, mang biển số 83V1 – 121.92, có giá trị là 21.840.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành tạm giữ: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future FI, màu trắng đen, mang biển số 83V1 – 121.92; 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, mang biển số 61S4 – 0775. Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an thị xã V đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng cách ra quyết định trao trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future FI, màu trắng đen, mang biển số 83V1 – 121.92 cho chủ sở hữu tài sản Trần Thanh T1. Đối với biển số xe biển số 83V1 – 121.92. Trong quá trình điều tra, Cơ điều tra đã tiến hành truy tìm vật chứng, nhưng không thu giữ được và lập biên bản để vào hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 28/CT-VKSVC ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu truy tố Trần Văn H, Huỳnh H2 và Hứa Hữu L1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H, Huỳnh H2 và Hứa Hữu L1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1 Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Trần Văn H. Đề nghị xử phạt bị cáo H từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Huỳnh H2. Đề nghị xử phạt bị cáo H2 từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, h, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Hứa Hữu L1. Đề nghị xử phạt bị cáo L1 từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda, loại Wave, mang biển số 61S4 – 0775, số khung: RMNWCHSMN9H0011908, số máy: VHLFM152FMHV01111908.

Tại đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự và yêu cầu xử lý hình sự đối với các bị cáo theo quy định

pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn H, Huỳnh H2 và Hứa Hữu L1 thừa nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng tội. Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn H và Huỳnh H2 thống nhất về tội danh, điều luật và các tình tiết giảm nhẹ như đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu đề nghị. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Trần Văn H 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù, xử phạt bị cáo Huỳnh H2 01 (một) năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối với người tham gia tố tụng là bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Đồng thời, trong hồ sơ vụ án đã có lời khai đầy đủ ở Cơ quan Điều tra. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

[3] Xét hành vi của các bị cáo Trần Văn H, Huỳnh H2, Hứa Hữu L1: Tại phiên tòa, bị cáo H, H2 và L1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại. Đồng thời, phù hợp với vật chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có căn cứ xác định: Vào khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 29 tháng 12 năm 2023, bị cáo Trần Văn H đã rủ các bị cáo Hứa Hữu L1 và Huỳnh H2 đi tìm tài sản của người khác lấy trộm nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, thì các bị can L1 và H2 đồng ý. Nên bị cáo H đã điều khiển xe mô tô loại Wave, màu đỏ, mang biển số 61S4 – 0775 để chờ bị cáo L1 ngồi giữa và bị cáo H5 ngồi sau đi đến trước nhà của bị hại Trần Thanh T1 tại ấp Đ, xã V, thị xã V thì các bị cáo H, L1 và H2 đã thống nhất ý chí với nhau lén lút lấy trộm một chiếc xe mô tô loại xe Future FI, màu trắng đen, mang biển số 83V1 – 121.92, có giá trị là 21.840.000 đồng của bị hại Thứ. Sau khi lấy trộm xe mô tô xong, bị cáo L1 đã điều khiển xe đem về nhà của bị cáo H để cất giấu, tại đây bị cáo L1 đã lấy trộm trong cốp xe của bị hại Thứ với số tiền 230.000

đồng nhằm mục đích tiêu xài cá nhân. Trước khi thực hiện hành vi phạm tội thì giữa các bị cáo không có bàn bạc, phân công vai trò chặt chẽ, nên các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Trong đó: Bị cáo Trần Văn H là người khởi xướng và thực hành, còn bị cáo Hứa Hữu L1 và Huỳnh H2 là người giúp sức và thực hành, cho nên có đủ cơ sở để kết luận: Hành vi của bị cáo Trần Văn H, Huỳnh H2 và Hứa Hữu L1 đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Văn H, Huỳnh H2 và Hứa Hữu L1 thừa nhận là nhận thức được hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Xét tính chất, hành vi và hậu quả của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác về tài sản được pháp luật bảo vệ. Hiện nay, tệ nạn trộm cắp trong tỉnh Sóc Trăng nói chung và địa bàn thị xã V nói riêng xảy ra ngày càng gia tăng, gây ra sự hoang mang lo sợ cho nhân dân trong việc quản lý tài sản. Vì vậy, đối với các bị cáo cần xử phạt nghiêm, cách ly các bị cáo trong một thời gian hợp lý để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

[5] Về tình tiết tăng nặng:

[5.1] Đối với bị cáo Trần Văn H: Trước khi phạm tội, bị cáo có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích thì tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015.

[5.2] Bị cáo Huỳnh H2 và bị cáo Hứa Hữu L1 không có tình tiết tăng nặng.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ:

[6.1] Đối với bị cáo Trần Văn H: Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, tài sản trộm cắp đã thu hồi trả cho bị hại nên thuộc trường hợp phạm tội gây thiệt hại không lớn. Bị cáo dân tộc H6 trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[6.2] Đối với bị cáo Huỳnh H2: Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, tài sản trộm cắp đã thu hồi trả cho bị hại nên thuộc trường hợp phạm tội gây thiệt hại không lớn, bị cáo dân tộc K1 không biết chữ nên nhận thức pháp luật còn hạn chế nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[6.3] Đối với bị cáo Hứa Hữu L1: Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, tài sản trộm cắp đã thu hồi trả cho bị hại nên thuộc trường hợp phạm tội gây thiệt hại không lớn, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo dân tộc Khmer nên nhận thức pháp luật còn hạn chế nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, h, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Thanh T1 không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo Trần Văn H và bị cáo Huỳnh H2 có đơn xin miễn án phí do các bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

[9] Xét lời đề nghị của vị Kiểm sát viên, người bào chữa cho bị cáo Trần Văn H và bị cáo Huỳnh H2 là có cơ sở, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của bị hại, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1 Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017)

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bắt bị cáo thi hành án phạt tù.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh H2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh H2 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/4/2024.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s, h, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Tuyên bố: Bị cáo Hứa Hữu L1 phạm tội “Trộm cắp tài sản".

Xử phạt bị cáo Hứa Hữu L1 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bắt bị cáo thi hành án phạt tù

(trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ 03 ngày, từ ngày 30/12/2023 đến ngày 02/01/2024).

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, mang biển số 61S4 – 0775; số khung: RMNWCHSMN9H0011908, số máy: VHLFM152FMHV01111908

Theo phiếu nhập kho số NK40 ngày 006/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

+ Bị cáo Hứa Hữu L1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

+ Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Văn H và bị cáo Huỳnh H2.

Báo cho bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND thị xã Vĩnh Châu;
  • - Công an thị xã Vĩnh Châu;
  • - CQTHAHS – Công an thị xã Vĩnh Châu;
  • - Chi cục THADS thị xã Vĩnh Châu;
  • - Bị cáo, bị hại; NCQLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/HS-ST ngày 25/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 24/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn H và đồng phạm phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger