|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 24/2024/HS-ST Ngày 24 tháng 6 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thành Thuận
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Thái Quân và ông Huỳnh Văn Sức
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa:
Ông Lê Hoàng Vỉnh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2024/TLST-HS, ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HS, ngày 10 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thanh V, sinh năm 1970. Nơi sinh: huyện P, tỉnh An Giang. Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang. Giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: lớp 06/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Đạo Phật giáo H2; con ông Nguyễn Văn M (đã chết) và bà Nguyễn Thị M1 (đã chết); vợ Nguyễn Thị Bé S, sinh năm 1968, có 02 con chung; Tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/3/2024 cho đến nay. (có mặt).
2. Nguyễn Trung T, sinh năm 1982. Nơi sinh: huyện P, tỉnh An Giang. Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang. Giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: lớp 11/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Đạo Phật giáo Hòa Hảo; con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1954; vợ Trần Thị Mỹ H, sinh năm 1980, con tên Nguyễn Quốc T1, sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/3/2024 cho đến nay. (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh V: ông Phạm Minh T2 - là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A. (có mặt).
- Những người làm chứng: Ông Nguyễn Văn Đ; bà Nguyễn Thị Bé S; ông Nguyễn Thành H1 và ông Nguyễn Văn M2 (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 40 phút ngày 12/01/2024, Nguyễn Trung T sử dụng điện thoại di động có gắn sim số “0327.434.171” nhắn tin vào điện thoại di động có gắn sim số “0353.381.485” của Nguyễn Thanh V để đánh bạc bằng hình thức mua số lô A (02 số của giải tám kết quả xổ số kiến thiết Đài V) với số tiền 2.650.000 đồng và bao lô (02 số cuối từ giải tám đến giải đặc biệt kết quả xổ số kiến thiết đài Vĩnh Long) các số 01, 02, 03 với số tiền 450.000 đồng. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, T tiếp tục nhắn tin cho V mua số lô A (kết quả xổ số kiến thiết đài Vĩnh Long) với số tiền 400.000 đồng. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết đài Vĩnh Long, T trúng số lô 03 được 800.000 đồng, các số mua còn lại không trúng. Tổng cộng số tiền V, Thẩm đánh bạc bằng hình thức số lô, số đề của xổ số kiến thiết đài Vĩnh Long kể cả tiền trúng là 4.300.000 đồng.
Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, T tiếp tục nhắn tin cho V mua các cặp số đá (là 02 cặp số đuôi từ giải bảy đến giải đặc biệt) của kết quả xổ số kiến thiết đài Hải Phòng (M) với tổng số tiền 3.300.000 đồng. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết đài Hải Phòng, Thẩm trúng các cặp số đá 06-86, 06-84, 84-86 được số tiền 8.400.000 đồng, các số mua còn lại không trúng. Tổng cộng số tiền V, Thẩm đánh bạc bằng hình thức số lô, số đề của kết quả xổ số kiến thiết đài Hải Phòng kể cả số tiền trúng là 11.700.000 đồng. Đến khoảng 09 giờ ngày 13/01/2024, T đến nhà V lấy tiền trúng số nhưng V không đưa, dẫn đến hai bên cự cãi nhau. Lúc này, Nguyễn Thị Bé S (vợ của V) điện thoại trình báo Công an xã P. Khoảng 10 phút sau, lực lượng Công an xã P đến mời V, T về trụ sở làm việc. Qua làm việc, V, T khai nhận có hành vi đánh bạc bằng hình thức số lô, số đề được ăn thua bằng tiền như trên.
Ngoài ra, ngày 10/01/2024, Nguyễn Văn Đ có mua số lô A (02 số của giải tám kết quả xổ số kiến thiết đài Cần Thơ) số 28, với số tiền 5.000 đồng, nhưng không trúng. Đến ngày 20/01/2024, Công an xã P chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện P để điều tra, xử lý theo thẩm quyền. Ngày 21/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện P khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Nguyễn Thanh V và Nguyễn Trung T để điều tra, xử lý.
Tang vật thu giữ gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu nokia TA1203 màu đen có gắn sim số 0353.381.485 của V; 01 điện thoại di động nhãn hiệu samsung màu đen có gắn 02 sim số 0327.434.171 và 0917.103.007 của T. Ngoài ra không còn vật chứng thu giữ nào khác.
Kết luận giám định số 190/KL-KTHS ngày 10/3/2024, của Phòng K - Công an tỉnh A tìm thấy dữ liệu lưu trữ trong 02 điện thoại di động và kèm theo phụ lục gồm 12 trang A4 và đĩa DVD có tổng dung lượng dữ liệu 1,32 GB.
Quá trình điều tra, các bị cáo và những người làm chứng khai phù hợp với nội dung vụ án nêu trên.
3
Tại cáo trạng số 25/CT-VKS-HS, ngày 31/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân truy tố Nguyễn Thanh V, Nguyễn Trung T tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo Nguyễn Thanh V, Nguyễn Trung T vẫn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa sơ thẩm người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh V: ông Phạm Minh T2 cũng thống nhất với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân truy tố Nguyễn Thanh V về hành vi “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự nhưng đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo V hiện tại hoàn cảnh gia đình khó khăn, thuộc hộ cận nghèo, thiếu hiểu biết về pháp luật, tại Cơ quan điều tra và phiên toà hôm nay bị cáo V thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tự nguyện nộp số tiền thu lợi bất chính, bản thân chưa có tiền án, tiền sự. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo V hưởng chính sách khoan hồng của Nhà nước đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát đề nghị nhưng áp dụng mức hình phạt thấp nhất cho bị cáo V; đối với số tiền thu lợi bất chính đề nghị HĐXX xem xét bị cáo V thuộc hộ cận nghèo hoàn cảnh gia đình khó khăn.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh V từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm tính từ ngày tuyên án. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm tính từ ngày tuyên án.
Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện P giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Buộc bị cáo Nguyễn Thanh V nộp số tiền thu lợi bất chính là 15.205.000 đồng sung vào công quỹ Nhà nước theo quy định.
Buộc bị cáo Nguyễn Trung T nộp số tiền thu lợi bất chính là 6.800.000 đồng sung vào công quỹ Nhà nước theo quy định.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu nokia TA1203 màu đen có gắn sim số 0353.381.485 của
4
V; 01 điện thoại di động nhãn hiệu s amsung màu đen có gắn 02 sim số 0327.434.171 và 0917.103.007 của T. Các bị cáo chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: những người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, những người này đã có lời khai cụ thể, rõ ràng trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng này không gây trở ngại cho việc xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng Hình sự quyết định tiếp tục tiến hành xét xử.
[2] Về nội dung vụ án:
Qua tiến hành tranh tụng công khai tại phiên tòa và lời thừa nhận của các bị cáo V, T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, những người làm chứng trong vụ án.
[2.1] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thanh V và Nguyễn Trung T phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, biên bản kiểm tra chi tiết điện thoại, bảng đối chiếu số tiền mua bán số lô, số đề, bảng đối chiếu cùng ngày 13/01/2024 của Công an xã P lập; Bảng thống kê số đầu, số đá đối với từng bị cáo của Cơ quan Điều tra – Công an huyện P, Kết luận giám định số 190/KL-KTHS ngày 10/3/2024, của Phòng K - Công an tỉnh A tìm thấy dữ liệu lưu trữ trong 02 điện thoại di động và kèm theo phụ lục gồm 12 trang A4 và đĩa DVD có tổng dung lượng dữ liệu 1,32 GB.
Căn cứ vào các chứng cứ vừa nêu trên có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Thanh V và Nguyễn Trung T đã có hành vi đánh bạc (dưới hình thức ghi bán số lô, số đề, số đá..) nhiều đài xổ số kiến thiết trong ngày số tiền đánh bạc từ 5.000.000 đồng trở lên. Trong ngày 12/01/2024 số tiền của bị cáo V tham gia đánh bạc gồm số tiền bán đề và số tiền trúng thưởng tổng cộng là 16.000.000 đồng; bị cáo T tham gia đánh bạc gồm số mua đề, số trúng thưởng tổng cộng là 16.000.000 đồng. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Thanh V và Nguyễn Trung T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
5
Bị cáo Nguyễn Thanh V khai nhận số tiền thu lợi bất chính được 15.205.000 đồng gồm: thu lợi mỗi ngày 200.000 đồng x 30 ngày = 6.000.000 đồng; số tiền giao trúng thưởng 9.200.000 đồng và số tiền bán đề 5.000 đồng cần buộc bị cáo nộp sung vào ngân sách Nhà nước.
Bị cáo Nguyễn Trung T khai nhận số tiền mua lô, đề thu lợi bất chính được 6.800.000 đồng cần buộc bị cáo nộp sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với ông Nguyễn Văn Đ có hành vi mua số lô, số đề của bị cáo V số tiền 5.000 đồng, do chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an xã P ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Đ là đúng quy định pháp luật.
[2.2] Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội.
Đánh bạc dưới hình thức số đề là một trong những tệ nạn trong xã hội, nó không những làm cho những người tham gia lừa lao động, sản xuất, chỉ trông chờ vào vận may mà còn gây xáo trộn hoạt động bình thường trong gia đình và xã hội, cũng từ ăn thua trong đánh bạc, nó còn dẫn đến phát sinh những tệ nạn khác. Do vậy, pháp luật hình sự nước ta đã quy định hành vi đánh bạc là tội phạm. Các bị cáo V, T là người đã trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới hình thức bán số lô, đề cho nhiều người là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vì hám lời mà vẫn cố ý thực hiện.
Bị cáo V là trực tiếp bán số lô, đề cho nhiều người mua hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm hoạt động quản lý Nhà nước về trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nên cần có mức hình phạt cao hơn bị cáo T tương xứng hành vi bị cáo thực hiện, nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội. Còn đối với bị cáo T là người mua cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo thực hiện.
[2.3] Nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Các bị cáo V, T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; thuộc thành phần nhân dân lao động nên nhận thức pháp luật có phần bị hạn chế; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính. Như vậy, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, đủ điều kiện theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; Điều 2 và Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao “hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo”. Vì vậy, Hội đồng xét xử phạt các bị cáo V, Thẩm hình phạt tù ở mức tương xứng với khung hình phạt nhưng hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát,
6
người bào chữa cũng đủ để răn đe, giáo dục các bị cáo và cho thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước.
[3] Về các biện pháp tư pháp:
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện P tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia TA1203 màu đen có gắn sim số 0353.381.485 của bị cáo V; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen có gắn 02 sim số 0327.434.171 và 0917.103.007 của bị cáo T là công cụ phạm tội, còn giá trị sử dụng nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[4] Về án phí: bị cáo Nguyễn Trung T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm trong vụ án hình sự theo quy định của pháp luật. Đối với bị cáo Nguyễn Thanh V thuộc đối tượng hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 12, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh V và Nguyễn Trung T phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh V 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án ngày 24/6/2024.
Giao bị cáo Nguyễn Thanh V cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện P giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án ngày 24/6/2024.
Giao bị cáo Nguyễn Trung T cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện P giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Thanh V và Nguyễn Trung T.
Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
7
Buộc bị cáo Nguyễn Thanh V nộp số tiền thu lợi bất chính là 15.205.000 đồng (mười lăm triệu hai trăm lẻ năm nghìn đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.
Buộc bị cáo Nguyễn Trung T nộp số tiền thu lợi bất chính là 6.800.000 đồng (sáu triệu tám trăm nghìn đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA, TA 1203, màu đen, số sim 0353.381.485, đã qua sử dụng (số seri: 8984048000041727522) và 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, màu đen, số sim 1: 0327.434.171 (số seri: 8984048000010454852), số sim 2: 0917.103.007 (số seri: 89840200011297012765) đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng bên trong.
(Các vật chứng nêu trên do Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Phú Tân đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản đề ngày 03/6/2024)
Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Thanh V được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Trung T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thành Thuận |
Bản án số 24/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 24/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh V 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án ngày 24/6/2024.Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án ngày 24/6/2024.
