Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ TÚ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2024/DS - ST.

Ngày: 24 - 6 - 2024.

“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đặng Duy Tân.
  2. Ông Lê Hoàng Điệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 174/2023/TLST - DS, ngày 26 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-DS, ngày 17 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty T1 JACCS (gọi tắt là Công ty); địa chỉ: Lầu A Tòa nhà C, 7 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diệp hợp pháp của nguyên đơn: Ông Hứa Minh T, sinh năm 1985; nơi đăng ký thường trú: Áp B, xã T, Huyện C, tỉnh Sóc Trăng là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Giấy ủy quyền số 839/2023/UQLM-JIVF ngày 19/12/2023) (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Võ Hồng P, sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện lập ngày 28/11/2023, nguyên đơn Công ty T1 JACCS trình bày: Nguyên vào ngày 02/6/2023, ông Võ Hồng P ký hợp đồng số 930110004199248000 với Công ty để vay tiền mặt theo hình thức trả góp hàng tháng, cụ thể như sau: Số tiền vay là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng); thời hạn vay 20 tháng, lãi suất 3,87%/tháng; số tiền thanh toán mỗi tháng là 3.648.860 đồng (ba triệu sáu trăm bốn mươi tám nghìn tám trăm sáu mươi đồng) vào trước hoặc đúng ngày 12 hàng tháng cho đến khi tất toán hợp đồng vay, ngày thanh toán đầu tiên là ngày 12/7/2023. Sau khi ký kết hợp đồng, thì Công ty đã giải ngân cho ông P đủ số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng). Quá trình thực hiện hợp đồng, tính đến ngày 12/9/2023, ông P đã thanh toán cho Công ty số tiền nợ gốc là 2.966.370 đồng (hai triệu chín trăm sáu mươi sáu nghìn ba trăm bảy mươi đồng), lãi trong hạn 4.341.559 đồng (bốn triệu ba trăm bốn mươi mốt nghìn năm trăm năm mươi chín đồng), lãi quá hạn 21.431 đồng (hai mươi mốt nghìn bốn trăm ba mươi mốt đồng) và phí quản lý khoản vay 24.000 đồng (hai mươi bốn nghìn đồng). Tổng cộng ông P đã thanh toán cho Công ty số tiền là 7.353.360 đồng (bảy triệu ba trăm năm mươi ba nghìn ba trăm sáu mươi đồng). Tuy nhiên, từ sau ngày 12/9/2023 đến nay, ông P không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán và cố tình lẩn tránh, mặc dù Công ty đã nhiều lần gọi điện thoại yêu cầu ông P thanh toán, nhiều lần đến nhà yêu cầu ông P thanh toán. Việc ông P không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán đã vi phạm Điều 3; Điều 8 của hợp đồng số 930110004199248000 ngày 02/6/2023 mà hai bên đã thỏa thuận và ký kết, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của Công ty.

Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Hứa Minh T yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Võ Hồng P phải thanh toán một lần toàn bộ khoản nợ cho Công ty tính đến ngày 24/6/2024 với số tiền nợ gốc là 47.033.630 đồng (bốn mươi bảy triệu không trăm ba mươi ba nghìn sáu trăm ba mươi đồng) và tiền lãi tính đến ngày 24/6/2024 trong đó lãi trong hạn là 18.885.859 đồng (mười tám triệu tám trăm tám mươi lăm nghìn tám trăm năm mươi chín đồng) và lãi quá hạn là 3.760.315 đồng (ba triệu bảy trăm sáu mươi nghìn ba trăm mười lăm đồng), phí là 120.000 đồng (một trăm hai mươi nghìn đồng). Tổng cộng là 69.799.804 đồng (sáu mươi chín triệu bảy trăm chín mươi chín nghìn tám trăm lẻ bốn đồng).

Ông P còn phải tiếp tục thanh toán cho Công ty tiền lãi phát sinh do nợ quá hạn, lãi quá hạn, các loại phí từ ngày 25/6/2024 cho đến khi hết nợ theo Hợp đồng tín dụng số 930110004199248000 ngày 02/6/2023.

- Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bị đơn ông Võ Hồng P không có ý kiến hay văn bản trả lời cho Tòa án.

- Tại phiên toà, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Xác định đúng quan hệ tranh chấp. Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định, bị đơn không chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 91, khoản 1 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

Buộc bị đơn ông Võ Hồng P có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Công ty T1 JACCS tổng số tiền là 69.799.804 đồng (sáu mươi chín triệu bảy trăm chín mươi chín nghìn tám trăm lẻ bốn đồng). Trong đó, số tiền gốc là 47.033.630 đồng (bốn mươi bảy triệu không trăm ba mươi ba nghìn sáu trăm ba mươi đồng) và tiền lãi tạm tính đến ngày 24/6/2024 bao gồm lãi trong hạn là 18.885.859 đồng (mười tám triệu tám trăm tám mươi lăm nghìn tám trăm năm mươi chín đồng), lãi quá hạn là 3.760.315 đồng (ba triệu bảy trăm sáu mươi nghìn ba trăm mười lăm đồng) và phí là 120.000 đồng (một trăm hai mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày 25/6/2024 ông Võ Hồng P còn phải tiếp tục trả lãi quá hạn trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa ông P với Công ty T1 JACCS cho đến khi trả hết nợ.

Ngoài ra, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Ông Võ Hồng P mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Võ Hồng P.

[2]. Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn ông Võ Hồng P có nghĩa vụ trả số tiền nợ gốc là 47.033.630 đồng (bốn mươi bảy triệu không trăm ba mươi ba nghìn sáu trăm ba mươi đồng), Hội đồng xét xử thấy rằng: Để chứng minh cho việc bị đơn ông Võ Hồng P có vay vốn, Công ty cung cấp cho Tòa án chứng cứ là hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số 930110004199248000 ngày 02/6/2023 và giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án trả nợ ngày 02/6/2023 được ký kết theo phương thức chữ ký điện tử, giấy ủy nhiệm chi, chi tiết lệnh thanh toán của Ngân hàng Thương mại cổ phần C đã giải ngân số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) chuyển cho người thụ hưởng là Võ Hồng P, số tài khoản 101110100 với nội dung chuyển tiền cho khách hàng Võ Hồng P và các giấy tờ khác có liên quan. Xét thấy, về hình thức, nội dung các văn bản này là phù hợp theo quy định của pháp luật nên được thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia có các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký; đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng và thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông P biết nhưng ông P không có ý kiến phản đối gì. Do đó, Hội đồng xét xử khẳng định ông P đã vay và nhận đủ của Công ty số tiền là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng). Quá trình thực hiện hợp đồng, theo lịch sử thanh toán do Công ty cung cấp thể hiện sau khi vay ông P đã trả cho Công ty được số tiền gốc là 2.966.370 đồng (hai triệu chín trăm sáu mươi sáu nghìn ba trăm bảy mươi đồng), lần cuối cùng trả vào ngày 12/9/2023. Do đó, việc ông P không thực hiện nghĩa vụ trả tiếp dư nợ gốc và lãi theo giao kết trong hợp đồng đã vi phạm Điều 3 và Điều 8 của hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết, ông P là người có lỗi, là người vi phạm hợp đồng nên phải chịu mọi hậu quả theo giao kết và theo quy định của pháp luật. Vì vậy, việc nguyên đơn Công ty yêu cầu thu hồi nợ trước hạn và buộc bị đơn ông P phải trả cho Công ty số tiền vay gốc còn nợ là 47.033.630 đồng (bốn mươi bảy triệu không trăm ba mươi ba nghìn sáu trăm ba mươi đồng) là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]. Xét yêu cầu tính lãi, phí của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số 930110004199248000 ngày 02/6/2023 và giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án trả nợ ngày 02/6/2023 giữa Công ty và ông P đã giao kết mức lãi suất là 3,87%./tháng. Phương thức áp dụng và điều chỉnh lãi suất: Áp dụng lãi suất cố định theo tổng dư nợ gốc ban đầu. Lãi suất nợ gốc quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Xét thấy, đối với khoản tiền lãi suất theo sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng là 3,87%/tháng, cao hơn so với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng thì Công ty là một trong những hình thức tổ chức tín dụng và được điều chỉnh bởi Luật các tổ chức tín dụng nên giữa Công ty và ông P thỏa thuận mức lãi suất theo hợp đồng tín dụng là có căn cứ. Do đó, mức lãi suất của hợp đồng các bên đã ký kết là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 7, Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên bị đơn phải có nghĩa vụ trả lãi cho nguyên đơn theo hợp đồng đã giao kết. Việc bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả tiếp dư nợ gốc và lãi theo giao kết trong hợp đồng đã vi phạm hợp đồng cho vay mà các bên đã ký kết, bị đơn là người có lỗi và là người vi phạm hợp đồng nên phải chịu mọi hậu quả theo giao kết và theo quy định của pháp luật. Như vậy, ông P phải có nghĩa vụ trả cho Công ty số tiền lãi, phí theo giao kết của hợp đồng tạm tính đến ngày 24/6/2024 với số tiền lãi trong hạn là 18.885.859 đồng (mười tám triệu tám trăm tám mươi lăm nghìn tám trăm năm mươi chín đồng) và lãi quá hạn là 3.760.315 đồng (ba triệu bảy trăm sáu mươi nghìn ba trăm mười lăm đồng), phí là 120.000 đồng (một trăm hai mươi nghìn đồng) là có căn cứ, phù hợp với nội dung thỏa thuận về việc trả nợ gốc lãi, chuyển nợ quá hạn, tính lãi tiền vay, phí tại hợp đồng tín dụng đã ký kết nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Như vậy, bị đơn ông Võ Hồng P có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn tổng cộng số tiền là 69.799.804 đồng (sáu mươi chín triệu bảy trăm chín mươi chín nghìn tám trăm lẻ bốn đồng). Trong đó, số tiền gốc là 47.033.630 đồng (bốn mươi bảy triệu không trăm ba mươi ba nghìn sáu trăm ba mươi đồng) và tiền lãi tạm tính đến ngày 24/6/2024 bao gồm lãi trong hạn là 18.885.859 đồng (mười tám triệu tám trăm tám mươi lăm nghìn tám trăm năm mươi chín đồng), lãi quá hạn là 3.760.315 đồng (ba triệu bảy trăm sáu mươi nghìn ba trăm mười lăm đồng) và phí là 120.000 đồng (một trăm hai mươi nghìn đồng) và kể từ ngày 25/6/2024, ông P còn phải tiếp tục trả lãi quá hạn trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng cấp tín dụng đã ký kết giữa ông P với Công ty cho đến khi trả hết nợ.

[4]. Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị đơn phải chịu 3.489.990 đồng (ba triệu bốn trăm tám mươi chín nghìn chín trăm chín mươi đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 91, khoản 1 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

[1]. Buộc bị đơn ông Võ Hồng P có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Công ty T1 JACCS tổng số tiền là 69.799.804 đồng (sáu mươi chín triệu bảy trăm chín mươi chín nghìn tám trăm lẻ bốn đồng). Trong đó, số tiền gốc là 47.033.630 đồng (bốn mươi bảy triệu không trăm ba mươi ba nghìn sáu trăm ba mươi đồng) và tiền lãi tạm tính đến ngày 24/6/2024 bao gồm lãi trong hạn là 18.885.859 đồng (mười tám triệu tám trăm tám mươi lăm nghìn tám trăm năm mươi chín đồng), lãi quá hạn là 3.760.315 đồng (ba triệu bảy trăm sáu mươi nghìn ba trăm mười lăm đồng) và phí là 120.000 đồng (một trăm hai mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày 25/6/2024 ông Võ Hồng P còn phải tiếp tục trả lãi quá hạn trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa ông P với Công ty T1 JACCS cho đến khi trả hết nợ.

[2]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn ông Võ Hồng P phải chịu 3.489.990 đồng (ba triệu bốn trăm tám mươi chín nghìn chín trăm chín mươi đồng) phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn Công ty T1 JACCS không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí là 1.338.960 đồng (một triệu ba trăm ba mươi tám nghìn chín trăm sáu mươi đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0002713, ngày 26/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

[3]. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.

[4]. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các bên đương sự;
  • - VKSND huyện Mỹ Tú;
  • - Chi cục THADS huyện Mỹ Tú;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng (P.KTNV&THA);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Thanh Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/DS - ST ngày 24/06/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 24/2024/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: dân sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger