|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập– Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 24/2024/ HNGĐ-ST
Ngày: 24/5/2024.
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hiền.
2. Bà Lê Thị Thanh Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 5 năm 2024 tại hội trường xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 141/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2024/QĐST- HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: chị Hà Thị T, sinh năm 1998.
Nơi thường trú: tổ A, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh.
Nơi ở hiện tại: số nhà A đường H, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn: anh Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1986.
Nơi cư trú: tổ A, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 18/12/2023 và quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn chị Hà Thị T trình bày: chị và anh Nguyễn Hữu T1 chung sống với nhau vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, C, Quảng Ninh vào ngày 06/6/2018. Anh, chị kết hôn, chung sống với nhau hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại tổ A, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Cuộc sống chung hạnh phúc đến cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T1 sử dụng ma túy, bỏ bê gia đình, không quan tâm đến chị và con chung. Chị đã cố gắng chịu đựng, khuyên can, góp ý với anh T1 nhiều lần nhưng anh T1 không thay đổi mà còn đánh đập, xúc phạm chị. Mâu thuẫn vợ chồng diễn ra thì người thân hai bên gia đình đều biết và đã can thiệp, hòa giải nhưng không có kết quả. Anh T1 vẫn không chịu từ bỏ ma túy, vẫn giữ thái độ cộc cằn và đánh chửi chị. Từ tháng 9 năm 2021 đến nay, chị đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ để sinh sống, sống ly thân với anh T1. Đến nay tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T1 không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Hữu T1.
Về con chung: vợ chồng anh, chị có 01 con chung là Nguyễn Hữu T2, sinh ngày 28/10/2018. Khi ly hôn, chị đề nghị được nuôi dưỡng con chung đến đủ tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền thăm nom con chung theo quy định pháp luật.
Về tài sản chung và các khoản nợ: chị và anh T1 không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Hữu T1, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả đã triệu tập hợp lệ nhiều lần đến trụ sở Tòa án để giải quyết yêu cầu xin ly hôn của chị Hà Thị T, nhưng anh T1 đều vắng mặt không có lý do.
Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả đã xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị T. Kết quả xác minh thể hiện: vợ chồng anh Nguyễn Hữu T1 và chị Hà Thị T đều đăng ký thường trú tại tổ A, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Hiện tại, anh T1 đang ở một mình, do vợ chồng mâu thuẫn nên chị T đã cùng con chung là Nguyễn Hữu T2 bỏ về quê sinh sống, sống ly thân với anh T1. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T1, chị T thì địa phương không nắm được, vì khu phố không nhận được yêu cầu hòa giải của vợ chồng anh T1, chị T. Nay chị T có đơn xin ly hôn anh T1, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc tiến hành tố tụng và nội dung giải quyết vụ án dân sự, khẳng định: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Về thẩm quyền: Xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp và đúng tư cách tố tụng các đương sự tham gia tố tụng, về thời hạn chuẩn bị xét xử và các thủ tục tố tụng khác. Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Về nội dung, căn cứ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Hà Thị T, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: anh Nguyễn Hữu T1 có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ A, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh nên yêu cầu xin ly hôn của chị Hà Thị T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: nguyên đơn chị Hà Thị T vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Hữu T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Quan hệ hôn nhân giữa chị Hà Thị T và anh Nguyễn Hữu T1 là hợp pháp, được Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh cấp giấy chứng nhận kết hôn số 49 ngày 06/6/2018. Trong quá trình chung sống đã nảy sinh mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Chị T cho rằng anh T1 mải chơi, sử dụng ma túy, không quan tâm đến gia đình. Chị cố gắng nhẫn nhịn, chịu đựng, khuyên can nhưng anh T1 không thay đổi mà còn chửi mắng, đánh đập chị. Do đó, trong cuộc sống vợ chồng không có tiếng nói chung, hay xảy ra to tiếng, cãi mắng nhau, ảnh hưởng đến việc giáo dục con chung. Mâu thuẫn vợ chồng diễn ra thì người thân hai bên gia đình đã hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Từ tháng 9 năm 2021 đến nay, chị T đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ để sinh sống, sống ly thân với anh T1, không ai quan tâm đến ai. Do đó, chị T đề nghị được ly hôn anh Nguyễn Hữu T1, vì tình cảm vợ chồng không còn.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập anh T1 tham gia tố tụng để hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh T1 nhưng anh T1 đều vắng mặt. Điều đó thể hiện sự không hợp tác trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng của bị đơn anh Nguyễn Hữu T1.
Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh T1 đã trầm trọng, hai người đã sống ly thân nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị T là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
[3] Về con chung: quá trình giải quyết vụ án, chị T có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Hữu T2, sinh ngày 28/10/2018 đến khi đủ tuổi thành niên. Chị không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy anh T1 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không rõ quan điểm của anh về việc nuôi dưỡng con chung. Chị T hiện là lao động tự do, thu nhập hàng tháng từ trên 10.000.000 đồng/tháng, đảm bảo điều kiện chăm sóc con chung. Chị T cung cấp tài liệu được chính quyền địa phương xác nhận, nội dung thể hiện chị và con chung Nguyễn Hữu T2 hiện nay đang sinh sống cùng với bố mẹ đẻ của chị, cháu T2 hiện nay đang theo học tại trường M ở phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ vào Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị T, giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng để đảm bảo lợi ích toàn diện của con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị T không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xét.
[4] Về tài sản chung: các đương sự không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ chung: các đương sự không có nợ chung, nên Tòa án không đề cập giải quyết.
[5] Về án phí và quyền kháng cáo: chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân gia và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: chấp nhận đơn khởi kiện về yêu cầu “xin ly hôn” của nguyên đơn chị Hà Thị T.
- Về quan hệ hôn nhân: chị Hà Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Hữu T1.
- Về con chung: giao con chung là Nguyễn Hữu T2, sinh ngày 28/10/2018 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến đủ tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
- Về tài sản chung: các đương sự không có tài sản chung, nên Tòa án không đề cập giải quyết.
- Về công nợ chung: các đương sự không có nợ chung, nên Tòa án không đề cập giải quyết.
- Về án phí: chị Hà Thị T phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002126, ngày 19/12/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Báo cho nguyên đơn, bị đơn biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Đạt |
Bản án số 24/2024/ HNGĐ-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 24/2024/ HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Hà Thị T khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Nguyễn Hữu T1
