Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHIÊM HÓA

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2024/HS-ST

Ngày 24-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bùi Mạnh Hùng.
  2. Ông Quốc Văn Tài.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Thị Hanh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Duy Luận - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 08/2024/QĐST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

NÔNG VĂN H1

NÔNG VĂN H1, tên gọi khác: Không; sinh ngày 19/4/1989 tại huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nơi thường trú, chỗ ở: Thôn K, xã K, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; đảng, đoàn thể: Không; con ông Nông Văn G (đã chết), và bà Lục Thị Đ, sinh năm 1962; anh, chị, em ruột: Có 04 người, bị cáo là thứ ba; vợ: Trương Thị L (đã ly hôn); con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản án số 30/2007/HSST ngày 29/8/2007 của Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 18 tháng về tội trộm cắp tài sản.

Bị cáo bắt tạm giam từ ngày 20/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

2

* Bị hại: Chị Hà Thị H, sinh năm 1980. Địa chỉ: Thôn K, xã K, huyện C, tỉnh Tuyên Quang (Vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trịnh Đức N, sinh năm 1986. Địa chỉ: Thôn C, xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng hơn 18 giờ, ngày 11/02/2024, Nông Văn H1, trú tại thôn K, xã K, huyện C, tỉnh Tuyên Quang đi bộ từ nhà theo hướng về xã V, huyện C. Khi H1 đi đến trước cửa nhà chị Hà Thị H, sinh năm 1980, trú cùng thôn quan sát thấy nhà chị H không có ai ở nhà nên H1 đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của gia đình chị H. H1 đi ra phía sau mở cửa vào nhà bếp rồi lên phòng khách nhà chị H tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Khi lên đến phòng khách quan sát thấy có camera gắn trên tường nhà nên H1 lấy một chiếc áo chống nắng để tại khu vực cửa phòng ngủ và một đoạn ống nước bằng nhựa dài khoảng 02 mét để tại vị trí cửa bếp nhà chị H, sau đó đặt áo vào đầu ống nhựa để đưa lên che camera thì bị trượt, áo rơi vào camera làm camera rơi xuống úp vào tường. H1 xác định camera không ghi được hình ảnh, nên đã trộm cắp 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu HP, màu bạc, để trên bàn học bên phải (theo hướng từ bếp đi lên) và 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu DELL, màu đen, trên bàn học kê bên trái (theo hướng từ bếp đi lên). Sau khi trộm cắp được 02 chiếc máy tính H1 đem về nhà cất giấu trong phòng ngủ của mình. Đến khoảng 14 giờ, ngày 13/02/2024 H1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số 22B1-787.87 đem theo 02 chiếc máy tính đã trộm cắp đến bán cho Trịnh Đức N, sinh năm 1986, trú tại thôn C, xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang là chủ cửa hàng mua, bán máy tính “Hưng Thịnh” tại tổ A, phường T, thành phố T được 3.100.000 đồng (Quá trình mua bán, N không biết tài sản do H1 trộm cắp mà có). Số tiền có được từ việc trộm cắp tài sản, H1 đã chi tiêu cá nhân hết. Ngày 15/02/2024, chị Hà Thị H phát hiện tài sản bị người khác trộm cắp nên đã đến Cơ quan Công an để trình báo sự việc và đề nghị giải quyết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 20/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu HP 15s-fq0003TU, vỏ màu bạc, sản xuất năm 2020 tại thời điểm tháng 02/2024 có giá trị là 5.000.000 đồng; 01 máy tính xách tay, nhãn hiệu DELL Inspirion 15-3567, vỏ màu đen, sản xuất năm 2019 tại thời điểm tháng 02/2024 có giá trị là 5.100.000 đồng. Tổng trị giá của 02 chiếc máy tính nêu trên là: 10.100.000 đồng.

3

Tại bản Cáo trạng số: 19/CT-VKSCH ngày 25/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang truy tố Nông Văn H1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật đã nêu trong Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nông Văn H1 từ 09 tháng đến 01 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 20/3/2024.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J6+, vỏ màu đen, Imel 1: 354402103898615, Imel 2: 354403103898613 của Nông Văn H1, điện thoại cũ, đã qua sử dụng.

Trả lại cho Nông Văn H1 01 sim điện thoại số thuê bao 0985.138.xxx.

Ngày 01/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho chị Hà Thị H 02 máy tính xách tay: 01 máy tính nhãn hiệu Dell Inspiron 15-3567, vỏ màu đen, màn hình kích thước 15,6 inch, 01 máy tính nhãn hiệu HP 15s-fq0003TU, vỏ màu bạc, màn hình kích thước 15,6 inch đều là máy cũ, đã qua sử dụng. Do vậy không đề nghị xem xét giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo Nông Văn H1 đã trả lại cho anh Trịnh Đức N số tiền bán 02 máy tính 3.100.000 đồng, anh N không yêu cầu bồi thường.

Chị Hà Thị H đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bị cáo phải thường gì nên không đề nghị xem xét, giải quyết.

Đối với bà Lục Thị Đ không biết Nông Văn H1 sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn đỏ đen, biển số 22B1-787.87 thuộc sở hữu của mình vào mục đích phạm tội nên không đề cập xử lý.

Đối với anh Trịnh Đức N quá trình mua bán không biết nguồn gốc tài sản do H1 trộm cắp mà có nên không xem xét, giải quyết.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nông Văn H1 không có nghề nghiệp ổn định, thuộc diện hộ cận nghèo, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

4

Tại phiên tòa bị cáo Nông Văn H1 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát. Nói lời sau cùng bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt chị Hà Thị H và anh Trịnh Đức N trình bày giữ nguyên quan điểm như đã trình bày tại Cơ quan điều tra, không bổ sung nội dung gì thêm; về trách nhiệm dân sự chị H, anh N, không yêu cầu bị cáo bồi thường. Về trách nhiệm hình sự chị Hà Thị Hợp đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố; của Kiểm sát viên tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, phù hợp theo quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Nông Văn H1 tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ, ngày 11/02/2024 tại nhà ở của chị Hà Thị H, Nông Văn H1 đã có hành vi trộm cắp 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Inspiron 15-3567, vỏ màu đen, màn hình kích thước 15,6 inch trị giá 5.100.000 đồng và 01 máy tính xách tay nhãn hiệu HP 15s-fq0003TU, vỏ màu bạc, màn hình kích thước 15,6 inch trị giá 5.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Nông Văn H1 trộm cắp là 10.100.000 đồng đủ cơ sở xác định bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Như vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

5

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

[4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện với lỗi cố ý, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có nhân thân xấu năm 2007 bị Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội trộm cắp tài sản, mặc dù đã bị xét xử về tội trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không coi đó là bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện bị cáo không có ý thức chấp hành pháp luật nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm chung, Hội đồng xét xử xét thấy cần căn cứ Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo hình phạt tù và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục cũng như phòng ngừa tội phạm chung, xử phạt bị cáo mức án trong phạm vi đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, có căn cứ.

[5] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đối với 01 điện thoại di động của Nông Văn H1, nhãn hiệu Samsung Galaxy J6+, vỏ màu đen, Imel 1: 354402103898615, Imel 2: 354403103898613 điện thoại cũ, đã qua sử dụng, H1 sử dụng đến pin điện thoại để soi khi vào nhà chị H để trộm cắp máy tính, do vậy cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Trả lại cho bị cáo 01 sim điện thoại số thuê bao 0985.138.xxx.

6

Đối với 02 máy tính xách tay: 01 máy tính nhãn hiệu Dell Inspiron 15-3567, vỏ màu đen, màn hình kích thước 15,6 inch, 01 máy tính nhãn hiệu HP 15s-fq0003TU, vỏ màu bạc, màn hình kích thước 15,6 inch đều là máy cũ đã qua sử dụng, ngày 01/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho chị Hà Thị H là chủ sở hữu hợp pháp, do vậy không xem xét, giải quyết.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Chị Hà Thị H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm; Bị cáo đã trả anh Trịnh Đức N số tiền 3.100.000 đồng tiền mua máy tính và không yêu cầu bị cáo bồi thường, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7]. Về vấn đề khác:

Đối với Trịnh Đức N, quá trình mua 02 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Inspiron 15-3567, vỏ màu đen, màn hình kích thước 15,6 inch và nhãn hiệu HP 15s-fq0003TU, vỏ màu bạc, màn hình kích thước 15,6 inch không biết nguồn gốc tài sản do H1 phạm tội mà có nên không xem xét giải quyết.

Đối với bà Lục Thị Đ không biết Nông Văn H1 sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn đỏ đen, biển số 22B1-787.87 thuộc sở hữu của mình vào mục đích phạm tội nên không xem xét.

[8] Về án phí: Tại phiên tòa bị cáo Nông Văn H1 có đơn đề nghị miễn nộp tiền án phí hình sự, căn cứ các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nông Văn H1 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 20/3/2024.

7

- Về vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động của Nông Văn H1, nhãn hiệu Samsung Galaxy J6+, vỏ màu đen, Imel 1: 354402103898615, Imel 2: 354403103898613 điện thoại cũ, đã qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo 01 sim điện thoại số thuê bao 0985.138.xxx.

Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản lập ngày 03 tháng 5 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa.

- Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nông Văn Huỳnh.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND huyện Chiêm Hóa;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Chiêm Hóa;
  • - Cơ quan ĐT CA huyện Chiêm Hóa;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Chiêm Hóa;
  • Hóa;
  • Phòng HSNV CA tỉnh Tuyên Quang;
  • Sở Tư pháp;
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng khác;
  • - Hồ sơ THAHS;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Huệ

- Chi cục THADS huyện Chiêm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 24/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án số 24 Nông Văn H pham tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger