Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SẦM SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2024/HSST

Ngày: 24/4/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN- TỈNH THANH HOÁ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Long.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Ngọc Trọng

Ông Nguyễn Viết Mai

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Bá Huy– Thư ký tòa án nhân dân Thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Sầm Sơn tham gia phiên toà: Ông Hà Quang Lộc - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 21/2024/TLST-HS ngày 05/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024, đối với các bị cáo:

1.Vũ Như S; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 2005, tại Thanh Hóa; HKTT và nơi ở hiện nay: TDP H, phường Q, Thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Vũ Như H (đã mất); Con bà: Trần Thị H1; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/12/2023 đến nay. “Có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Văn N; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 2004, tại Thanh Hóa; HKTT và nơi ở hiện nay: TDP T, phường Q, Thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Con ông: Nguyễn Văn T; Con bà: Nguyễn Thị H2; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con đầu ; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/12/2023 đến nay. “Có mặt tại phiên tòa”.

Người bị hại: Anh Cao Sỹ S1, sinh năm: 2005. “ Vắng mặt”

Địa chỉ: TDP T, phường T, TP S, tỉnh Thanh Hóa

Người làm chứng:

  1. Anh Trương Văn T1 – SN: 2008. “Vắng mặt”

Người đại diện hợp pháp cho anh T1: Bà Phạm Thị H3 (mẹ ruột của anh T1). “Vắng mặt”

Địa chỉ: Thôn I, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa

  1. Anh Phạm Văn H4 – SN: 2005. “Có mặt”

Địa chỉ: Thôn 1, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa

  1. Anh Ngô Hữu D – SN: 2006. “Vắng mặt”

Người đại diện hợp pháp cho anh D: Bà Trương Thị C (mẹ ruột của anh T1). “Vắng mặt”

Địa chỉ: KP H, phường Q, TP S, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19h00 ngày 08/08/2023 tại nhà Phạm Văn H4 ở thôn I, xã Q, huyện Q, Trương Văn T1 (sinh ngày 06/01/2008) mượn điện thoại di động của Vũ Như S để gọi điện cho Vũ Thị P trêu ghẹo, gạ đi nhà nghỉ. Sau đó, P kể lại sự việc cho Ngô Hữu D và Cao Sỹ S1 biết. D xem ảnh đại diện trên Zalo của số điện thoại T1 gọi đến đăng ký tên “Sơn Em” thì nhận ra người thanh niên trong ảnh là Vũ Như S ở tổ dân phố (TDP) Hồ N, phường Q, thành phố S nên D bảo Cao Sỹ S1 đến tối rủ mấy bạn nữa đến nhà Vũ Như S nói chuyện.

Khoảng 22h00 cùng ngày, D cùng nhóm bạn gồm: Nguyễn Thành Đ, Cao Sỹ S1, Nguyễn Hữu M, Lê Anh V, Vũ Thị P, Nguyễn Hữu Nhật M1 ngồi chơi tại quán nước gần khách sạn N1, thuộc phường B, thành phố S. Tại đây, D gọi điện cho Vũ Như S hỏi “Sao anh lại gạ người yêu bạn em, anh thích sao?" Vũ Như S đáp “Bay thích sao, nếu đánh nhau bay lên HUD4”. Sau đó, Vũ Như S gọi điện cho Nguyễn Văn N rủ đi đánh nhau và bảo N mang theo súng thì N đồng ý. Vũ Như S đi vào bếp lấy 01 con dao (dạng dao thái bản to) dắt sau lưng rồi đi xe máy không gắn biển kiểm soát đến đón N. Đến nơi, N vào nhà lấy 01 khẩu súng (dạng PCP màu đen đựng trong túi vải màu xanh) rồi cùng Vũ Như S đem súng đến khu HUD4 thuộc phường T, thành phố S để cất giấu. Sau đó, Vũ Như S gọi điện bảo Phạm Văn H4 mang bật lửa và khẩu trang đến cầu sắt ở khu HUD4 thì H4 đồng ý. H4 rủ thêm Trương Văn T1 đi cùng. Tại đây Vũ Như S nói với H4 “Đứng đây tí nữa đi với bọn anh".

Khoảng 05 phút sau, Vũ Như S gọi điện thoại cho D thì được biết D đang ở khách sạn B, phường T. Vũ Như S nói lại với nhóm bạn “Bọn nó đang ở B” đồng thời bảo T1 và H4 đứng đợi còn Vũ Như S và N đi lấy súng PCP. Sau khi quay lại, Vũ Như S bảo H4 ở lại đợi, bảo T1 điều khiển xe Wave màu đen chở Vũ Như S và N đi ra khách sạn B tìm đánh nhóm D thì tất cả đồng ý. T1 điều khiển xe chở N ngồi giữa, tay cầm súng, còn Vũ Như S ngồi sau dắt dao sau lưng. Đi đến khách sạn B nhưng không thấy ai nên Vũ Như S gọi điện cho D để hỏi thì biết D và nhóm bạn đang ở gần nhà Vũ Như S ở TDP H, phường Q, thành phố S. Sau đó, T1, N và Vũ Như S tiếp tục đi ra đường Thanh Niên cải dịch hướng ra Trần Nhân T2, đến đoạn gần khách sạn T3, thuộc tổ dân phố H, phường Q thì gặp Cao Sỹ S1 và Nguyễn Hữu Nhật M1 đang đi bộ. Lúc này, Vũ Như S hô “Bọn nó đây rồi”, T1 nghe xong thì điều khiển xe quay lại thì M1 bỏ chạy, N xuống xe đi lại dí súng vào người Cao Sỹ S1 đe doạ không cho bỏ chạy, Vũ Như S lao lại tay phải dùng dao chém nhiều nhát vào phía sau lưng gây thương tích cho Cao Sỹ S1, chém xong Vũ Như S bảo Cao Sỹ S1 lên xe để dẫn đường đi tìm D. Sau đó, T1 điều khiển xe chở Vũ Như S, Cao Sỹ S1 và N đến bãi đất trống phía trước nhà Vũ Như S thì dừng lại, tại đây Vũ Như S kiểm tra điện thoại và hỏi Cao Sỹ S1 “Bọn kia đâu?”, Cao Sỹ S1 trả lời “Em không quen biết bọn nó, em không liên quan gì”, Vũ Như S bảo Cao Sỹ S1 gọi cho D nhưng không thấy D đến nên Vũ Như S tiếp tục bảo Cao Sỹ S1 lên xe chỉ đường đến nhà D. Trên đường đi thì gặp Nguyễn Thành Đ đang điều khiển xe máy Exciter không gắn biển kiểm soát chở D và Trần Trí D1. Lúc này T1 dừng xe thả Cao Sỹ S1 xuống rồi tiếp tục chở Vũ Như S và N đuổi theo Đ, D, D1. Đuổi được một đoạn, thấy nhóm D chạy vào quán bi-a gần đó nên Vũ Như S, T1, N bỏ đi. Trên đường đi về Hud4 thì Vũ Như S vứt con dao xuống sông Đ thuộc phường T rồi gọi điện thoại cho H4 thì biết H4 đang ở gần khu nhà thờ thuộc phường T nên cả nhóm quay lại đón H4. Tại đây, N mở cốp xe lấy túi vải đựng súng ra để cất thì dây túi vướng vào cò súng làm súng nổ, đạn bắn ra trúng vào chân trái của H4 gây thương tích, H4 sau đó được T1 và Vũ Như S chở vào bệnh viện Đ1 điều trị. Về phía Cao Sỹ S1 sau khi bị Vũ Như S chém thương tích thì đi bộ về nhà D và được bố mẹ D đưa đến bệnh viện Đ1 để điều trị.

Sau khi đưa H4 vào Bệnh viện Đ1 điều trị thì Trương Văn T1 cởi chiếc áo khoác gió dài tay, cổ trùm màu xanh tím than đang mặc vứt tại hành lang phía tây nhà xác của bệnh viện rồi đi về, sau đó bị Công an thành phố S truy tìm thu giữ chiếc áo.

Ngày 09/8/2023, chị Nguyễn Thị H2 (mẹ Nguyễn Văn N) giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 khẩu súng loại PCP màu đen ký hiệu AIRFORCE airgun 2305 Made in USA, dài 74,5cm và 01 áo phông dài tay, cổ trùm màu nâu nhãn hiệu “dieng” phía trước ngực phải có dính chất lỏng màu nâu (nghi là máu) của Nguyễn Văn N (niêm phong ký hiệu N1).

Ngày 10/8/2023, Cao Sỹ S1 giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 áo phông cọc tay màu xanh nhãn hiệu “lecoqsportif”, size S có sọc đỏ-trắng ở phần ngực áo, phần lưng áo có dấu vết màu đỏ thẫm (niêm phong ký hiệu S1).

  • * Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể hồi 07h30' ngày 09/8/2023 tại Biện viện đa khoa S2, Cao Sỹ S1 bị các vết thương: 01 vết xây xước da tại vùng cổ bên phải, kích thước 1cm; 01 vết thương rách da tại vị trí cánh tay phải, dài 5,5cm đã được khâu; 01 vết xây xước da rỉ máu tại mặt ngoài cánh tay trái, kích thước 1x1x1cm; 01 vết rách da tại vị trí 1/3 trên lưng phải (gần nách phải) kích thước 3,5x0,5cm đã được khâu; 01 vết rách da tại vị trí lưng phải dài 9cm đã được khâu; 01 vết rách da, xây xước da tại vị trí 1/3 trên lưng trái dài 9,5cm; 01 vết rách da tại giữa lưng dài 15cm, đã được khâu; 01 vết rách da tại 1/3 dưới lưng trái dài 9cm, đã được khâu. Cao Sỹ Sơn điều trị tại bệnh viện Đ1 từ ngày 08/8/2023 đến ngày 15/8/2023 ra viện.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1445/KLTTCT-PYTH ngày 31/8/2023 của Trung tâm Pháp y Sở y tế tỉnh T kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Cao Sỹ S1 tại thời điểm giám định là: 13% (Mười hai phần trăm).

  • * Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể hồi 01h45’ngày 09/8/2023 tại bệnh viện Đ1, Phạm Văn H4 bị vết thương: Mặt trước trong mu bàn chân trái có vết thương do đạn bắn, kích thước 0,5x0,5x1cm bờ nham nhở. Phạm Văn H4 điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh T từ ngày 08/8/2023 đến ngày 14/8/2023 ra viện.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1462/KLTTCT-PYTH ngày 31/8/2023 của Trung tâm Pháp y Sở y tế tỉnh T kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Văn H4 tại thời điểm giám định là: 13% (Mười ba phần trăm).

Tại Bản kết luận giám định số: 6298/KL-KTHS ngày 20/9/2023 của V1 Bộ C1 kết luận: Trên hai chiếc áo của Nguyễn Văn N và Cao Sỹ S1 gửi giám định đều bám dính máu của Cao Sỹ S1.

Tại bản kết luận giám định số: 3013/KL-KTHS ngày 22/8/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận:

  • + 01 khẩu súng có số ký hiệu “AIRFORCE airgun 2305 Made in USA" trong vụ trên gửi đến giám định là súng hơi, thuộc loại súng săn - không phải vũ khí quân dụng. Hiện tại khẩu súng này không còn khí (hơi).
  • + 01 mảnh kim loại màu xám có kích thước (10,8x6,7x4,5)mm trong vụ trên gửi đến giám định là mảnh kim loại của loại đạn súng hơi, loại đạn này thuộc đạn súng săn, không phải vũ khí quân dụng.

Về vật chứng vụ án:

01 khẩu súng loại PCP màu đen, ký hiệu AIRFORCE, airguns 2305, dài 73,5cm; 01 mảnh kim loại màu xám, không rõ hình, kích thước (10,8x6,7x4,5) cm; 01 áo phông cọc tay, cổ trùm, màu nâu, nhãn hiệu “Dideng” của Nguyễn Văn N; 01 áo phông cọc tay màu xanh, nhãn hiệu “lecoqsportif”, size S có sọc đỏ-trắng ở phần ngực áo, phần lưng áo có dấu vết màu đỏ thẫm của Cao Sỹ S1; 01 áo khoác gió dài tay, cổ trùm màu xanh tím than, ống tay trái có chữ màu trắng "Rcydy feel good", ống tay phải bị đứt rời ½ bên dưới, hiện đang quản lý theo hồ sơ vụ án.

Đối với con dao (dạng dao thái bản to) Vũ Như S đã ném xuống khu vực sông Đ thuộc phường T, thành phố S. Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng ko tìm thấy.

Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi xảy ra sự việc Vũ Như S và Nguyễn Văn N đã bồi thường cho Cao Sỹ S1 số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Cao Sỹ S1 không yêu cầu, đề nghị bồi thường gì thêm.

Trương Văn T1 (sinh ngày 06/1/2008) là người điều khiển xe máy chở bị cáo N và S1 đi đánh nhau nên đồng phạm với N và S1. Nhưng tính đến thời điểm thực hiện hành vi mới 15 tuổi 7 tháng 02 ngày, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Đối với thương tích tại mu bàn chân trái của Phạm Văn H4 được xác định do Nguyễn Văn Nam vô ý trong lúc cất súng PCP vào túi vải thì làm súng nổ, đạn bắn ra trúng vào chân trái của H4 gây tổn thương cơ thể 13%, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. H4 không yêu cầu đề nghị bồi thường về phần dân sự. Ngày 27/3/2024 Công an thành phố S đã có Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với N về hành vi “Vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏa của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” theo điểm d khoản 1 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ.

Còn với hành vi tàng trữ trái phép vũ khí của Nguyễn Văn N, quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an T đã xác định khẩu súng N nhặt được và sử dụng vào tối ngày 08/8/2023 không phải vũ khí quân dụng mà là dạng súng săn. Do N chưa bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi này, nên ngày 05/4/2024 UBND thành phố S đã có Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ, sử dụng súng săn” theo điểm d khoản 4 Điều 11 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ đối với N.

Đối với hành vi của Vũ Như S, Nguyễn Văn N yêu cầu Cao Sỹ S1 lên xe máy mục đích chỉ đường đi tìm Ngô Hữu D, sau khi thấy D thì các đối tượng đã dừng xe để Cao Sỹ S1 xuống, thời gian, quãng đường đi ngắn, do đó Cơ quan điều tra không xử lý của các đối tượng nói trên về hành vi “Bắt, giữ người trái pháp luật”.

Về việc nhóm đối tượng Vũ Như S, Nguyễn Văn N và Trương Văn T1 đánh Cao Sỹ S1, sau đó tiếp tục điều khiển xe máy đi tìm đánh Ngô Hữu D, khi phát hiện Ngô Hữu D, Nguyễn Thành Đ và Trần Trí D1 đi trên xe máy thì các đối tượng đuổi theo một đoạn rồi bỏ về. Do sự việc xảy ra nhanh, quãng đường đi ngắn, vào thời điểm ban đêm không có người qua lại, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự. Vì vậy, không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự các đối tượng về hành vi này.

Tại bản Cáo trạng số 29/CTr-VKS ngày 02 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Sầm Sơn truy tố các bị cáo Vũ Như S và Nguyễn Văn N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS.

Tại phiên tòa:

  • - Các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Sầm Sơn tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b,s khoản 1 Điều 51 (đối với cả hai bị cáo S,N), khoản 2 Điều 51 (đối với bị cáo S); Điều 17, Điều 58; Điều 38 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Như S mức hình phạt từ 27 tháng đến 30 tháng tù, bị cáo Nguyễn Văn N mức hình phạt từ 24 tháng đến 26 tháng tù.

Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy: 01 khẩu súng loại PCP tự chế màu đen; 01 mảnh kim loại màu xám ; 01 áo khoác gió dài tay màu xanh tím than; 01 áo phông cọc tay màu xanh được bỏ vào hộp giấy màu vàng; 01 áo phông cọc tay màu nâu.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

  • - Các bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, Lời nói sau cùng đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị hại đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đã vắng mặt và anh K đã có đơn xin xét xử vắng mặt, việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử của vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai trong quá trình điều tra, lời khai của bị hạiphù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra và các vật chứng thu được trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ và cơ sở để kết luận:

Khoảng 22 giờ ngày 08/8/2024 tại Tổ dân phố H phường Q, Thành phố S. Nguyễn Văn N đã có hành vi dùng dùng súng uy hiếp để cho Vũ Như S dùng dao chém nhiều nhát vào phía sau lưng, tay anh Cao Sỹ S1 gây tỷ lệ tổn thương cơ thể 13% cho anh S1.

Bị cáo S1 dùng dao và bị cáo N dùng súng (loại súng săn) là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13%. Vì vậy, hành vi của bị cáo Vũ Như S, bị cáo Nguyễn Văn N phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện Kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Tính chất vụ án: Xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân, bị cáo N đã sùng súng uy hiếp để bị cáo S dùng dao chém nhiều nhát vào lưng, tay bị hại gây tổn hại 13% về sức khỏe cho anh Cao Sỹ S1. Hành vi của các bị cáo không những nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân nên cần phải xử lý nghiêm minh để giáo dục bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét vị trí, vai trò đồng phạm của các bị cáo: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn bởi các bị cáo đều cùng thực hiện hành vi phạm tội, không có sự bàn bạc, thống nhất trước. Tuy nhiên bị cáo S1 là người rủ bị cáo N, T1 đi đánh nhau, là người trực tiếp dùng dao chém gây nên thương tích cho bị hại nên có vai trò đầu vụ, bị cáo N được Vũ Như S rủ đi đánh nhau, đã dùng súng săn để uy hiếp bị hại để cho bị cáo S gây nên thương tích cho bị hại giữ vai trò đồng phạm sau bị cáo S. Do đó bị cáo Vũ Như S cần có mức hình phạt nghiêm khắc hơn bị cáo N.

[5] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, Bị cáo S, N đã thành khẩn khai báo; đã bồi thường toàn bộ thiệt hại bị hại, bị cáo S có bà nội là người có công với cách mạng. Nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51BLHS đối với bị cáo S, điểm b,s khoản 1 Điều 51 đối với bị cáo N xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

[6] Về phần bồi thường dân sự: Bị hại anh Cao Sỹ S1 đã được bồi thường toàn bộ thiệt hại và không yêu cầu gì thêm nên công nhận phần dân sự giữa bị cáo và bị hại đã được giải quyết xong.

[7] Về vật chứng: Đối với 01 khẩu súng loại PCP tự chế màu đen; 01 mảnh kim loại màu xám ; 01 áo khoác gió dài tay màu xanh tím than; 01 áo phông cọc tay màu xanh được bỏ vào hộp giấy màu vàng; 01 áo phông cọc tay màu nâu là các phương tiện dùng vào việc phạm tội nhưng không còn giá trị sử dụng nên căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy.

Đối với con dao (dạng dao thái bản to) Vũ Như S đã dùng để chém bị hại, bị cáo đã ném xuống khu vực sông Đ thuộc phường T, thành phố S. Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng ko tìm thấy nên không thu giữ được.

[8] Về án phí: Mỗi Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của UBTV Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: điểm đ Khoản 2 Điều 134 BLHS ; điểm b, s khoản 1,2 Điều 51 BLHS (đối với bị cáo S); điểm b,s khoản 1 Điều 51 BLHS (đối với bị cáo N); Điều 38; Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 47 BLHS; Khoản 1, điểm a,c khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 BLTTHS. Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về án, phí lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Như S, Nguyễn Văn N phạm tội “Cố ý gây thương tích"

Xử phạt: Bị cáo Vũ Như S 30 (ba mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 27/12/2023.

Bị cáo Nguyễn Văn N 26 (hai sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 27/12/2023

Về phần dân sự: Công nhận phần dân sự của các bị cáo với bị hại đã giải quyết xong.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 khẩu súng loại PCP tự chế màu đen; 01 mảnh kim loại màu xám ; 01 áo khoác gió dài tay màu xanh tím than; 01 áo phông cọc tay màu xanh được bỏ vào hộp giấy màu vàng; 01 áo phông cọc tay màu nâu. Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sầm Sơn theo Biên bản giao nhận vật chứng số 33/BBVC-CCTHA ngày 04/4/2024.

Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án đối với khoản tiền án phí theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Quyền kháng cáo: Các bị cáo Vũ Như S, Nguyễn Văn N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./

Nơi nhận:

  • - VKSND, TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND TP. Sầm Sơn;
  • - Công an TP. Sầm Sơn;
  • - Thi hành án HS, DS TP Sầm Sơn;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - UBND phường Quảng Cư, TP Sầm Sơn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Thị Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/HSST ngày 24/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN TỈNH THANH HÓA về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 22/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Áp dụng khoản 2 Đ 134 BLHS, xử Vũ Như S 30 Tháng tù, Nguyễn Văn N 26 Tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger