|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 24/2024/HNGĐ-ST Ngày 23/5/2024 V/v hôn nhân gia đình |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vương.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thúy và ông Phan Văn Tiến.
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Diệu Thúy.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Xuân Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 10/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/QĐ – HPT ngày 08/5/2024 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Hứa Thị H sinh năm 1979; nơi cư trú: thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Trần Văn T sinh năm 1974; nơi cư trú: thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình ( Vắng mặt lần thứ hai không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai tiếp theo và tại đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 23/4/2024 nguyên đơn chị Hứa Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn T tự nguyện tìm hiểu, kết hôn với nhau vào ngày 14/4/1999, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T cũ (nay là xã H). Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xã H một thời gian sau đó chuyển về sinh sống tại xã T. Thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, vợ chồng không hiểu và thông cảm cho nhau, thường xuyên cãi nhau, đánh nhau ảnh hưởng đến cuộc sống của vợ chồng và sinh hoạt học tập của con chung. Chị cảm thấy cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Mâu thuẫn ngày càng căng thẳng, đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.
- Về con chung: Chị và anh T có hai con chung là Trần Phương A, sinh ngày 08/01/2000 và Trần Văn T1, sinh ngày 28/12/2005. Hiện nay cả hai con chung đều đã trưởng thành, khỏe mạnh bình thường nên không đặt ra trách nhiệm nuôi dưỡng.
- Về tài sản chung: Chị và anh T không có nợ chung, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.
* Tại bản tự khai anh Trần Văn T trình bày:
Về quá trình tìm hiểu, kết hôn như chị H đã trình bày. Vợ chồng anh mâu thuẫn từ năm 2011 do tình tình không hợp, anh có đánh chị H 01 lần, sau đó đã xin lỗi nhưng chị H không tha thứ. Từ đó vợ chồng không vui vẻ với nhau. Nay chị H xin ly hôn anh không đồng ý, anh mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Về tài sản chung anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 10/4/2024 ông Trần Văn N và bà Vũ Thị K, là bố mẹ đẻ của anh Trần Văn T trình bày:
Hiện nay anh Trần Văn T đang cư trú tại thôn V, xã T. Bình thường anh T đi lao động tự do cụ thể là đi xây, không có địa chỉ cụ thể, cố định. Anh T vẫn thường xuyên về nhà khi có công việc và khi nghỉ, lễ tết. Theo ông bà được biết, thì anh T đã biết việc chị H xin ly hôn anh T, quan điểm của anh T là không đồng ý ly hôn vì mâu thuẫn vợ chồng không có gì lớn. Ông bà cũng mong muốn anh T và chị H về đoàn tụ. Ông bà từ chối nhận các văn bản tố tụng thay anh T vì anh T không sinh sống cùng ông bà.
* Tại biên bản xác minh ngày 10/4/2024, UBND xã T cung cấp:
Anh Trần Văn T quê quán ở xã T (nay là xã H), huyện T và chị Hứa Thị H là công dân địa phương xã T có đăng ký kết hôn tại UBND xã T (nay là xã H), huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 14 tháng 4 năm 1999. Sau khi kết hôn anh chị chung sống ở xã H một thời gian rồi chuyển về nhà chị H ở xã T để sinh sống, anh T đã chuyển hộ khẩu thường trú về ở T từ năm 2001 đến nay. Hiện nay anh T và chị H vẫn có nơi cư trú ở xã T. Anh T và chị H đều là lao động tự do, ngày bình thường thì đi làm nay tỉnh này mai tỉnh khác, khi đi không xin tạm vắng, tạm trú và thường xuyên về nhà vào các dịp nghỉ, lễ tết hoặc khi gia đình anh chị có công việc. Quá trình chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị H và anh T là tính tình không hợp, ngoài ra còn nguyên nhân nào khác địa phương không nắm rõ. Nay chị H nộp đơn ly hôn xuống Tòa án vì xác định vợ chồng anh chị đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, quan điểm của địa phương là anh T và chị H không thể tiếp tục cùng nhau chung sống, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Chị H và anh T có 02 con chung là Trần Phương A, sinh ngày 08/01/2000 và Trần Văn T1, sinh ngày 28/12/2005. Hiện nay cả hai con chung đều đã trưởng thành, khỏe mạnh bình thường.
Về tài sản chung: Tại địa phương, không có cơ quan tổ chức hay cá nhân nào có ý kiến về nợ liên quan đến vợ chồng chị H và anh T. Anh chị có ngôi nhà mái bằng 1 tầng ở thôn V, xã T. Đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy phát biểu quan điểm tại phiên tòa:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án là từ bỏ quyền của mình.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của pháp luật: áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 238, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Xử cho chị Hứa Thị H ly hôn anh Trần Văn T; Về quan hệ con chung: Con chung của anh chị đều đã đủ 18 tuổi nên không đặt ra giải quyết; Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và các bên được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng: Anh Trần Văn T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt anh.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hứa Thị H và anh Trần Văn T tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau vào ngày 14/4/1999, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T cũ (nay là xã H). Tại thời điểm kết hôn, hai bên đủ điều kiện kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống cùng nhau đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp vợ chồng tuy sống cùng nhà nhưng không còn tình cảm với nhau, không quan tâm đến nhau. Trong suốt quá trình giải quyết, chị H giữ nguyên quan điểm xin ly hôn. Quá trình làm việc tại tòa án, anh T xác định mâu thuẫn vợ chồng chưa trầm trọng, anh không đồng ý ly hôn, tuy nhiên quá trình hòa giải anh đều vắng mặt không có lý do chứng tỏ anh không thiết tha việc hàn gắn mối quan hệ vợ chồng với chị H. Từ những căn cứ trên, HĐXX thấy rằng tình trạng hôn nhân của chị H và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị H được ly hôn anh T là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về quan hệ con chung: Chị H và anh T có hai con chung là Trần Phương A, sinh ngày 08/01/2000 và Trần Văn T1, sinh ngày 28/12/2005. Hai con chung của anh chị đều đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động nên không đặt ra giải quyết.
- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh T không đề nghị Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết. Khi nào các đương sự có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án chị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị H và anh T có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật tại Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hứa Thị H ly hôn anh Trần Văn T.
- Về con chung: Chị H và anh T có hai con chung là Trần Phương A, sinh ngày 08/01/2000 và Trần Văn T1, sinh ngày 28/12/2005. Hai con chung của anh chị đều đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động nên không đặt ra giải quyết.
- Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Hứa Thị H phải chịu 300.000 đồng. Đối trừ số tiền 300.000 đồng chị H đã nộp tạm ứng áp phí theo biên lai thu số 0004075 ngày 29 tháng 01 năm 2024 sang tiền án phí, chị H đã thi hành xong.
- Về quyền kháng cáo: Chị Hứa Thị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Trần Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Vương |
Bản án số 24/2024/HNGĐ-ST ngày 23/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 24/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử cho chị H ly hôn a T
