TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 24/2024/HS-ST Ngày: 23 – 05 – 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Văn Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Phan Duy Bản và ông Thông Phi.
Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Văn Tân – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: ông Phạm Đình Lắm - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 04 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 05 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đình Phương A, sinh ngày 02/8/2000 tại tỉnh Bình Thuận; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: xóm D, thôn B, xã M, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình V, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1973; trước đây có vợ tên Lê Lâm Tú N (sinh năm 2001) nhưng đã ly hôn và có 01 người con, sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/03/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: ông Trương Đồng H1, sinh năm 1953, nơi cư trú cuối cùng: thôn E, xã M, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Đã chết.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: anh Trương Nhật T, sinh năm 1982; nơi cư trú: xóm B, thôn E, xã M, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Huỳnh Văn T1, sinh năm 1976, nơi cư trú: thôn E, xã M, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt, đã có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1] Về hành vi của bị cáo, tội danh, điểm, khoản, điều luật và mức hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố, đề nghị:
Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 12/11/2023, bị cáo Nguyễn Đình Phương A có giấy phép lái xe hạng A1, điều khiển xe mô tô biển số 86B8-482.87, lưu thông trên đường ĐT717 theo hướng từ xã B đi xã N. Khi đến đoạn trước kho lương thực thuộc thôn D, xã M, huyện T; bị cáo phát hiện thấy phía trước cách bị cáo khoảng 40m, có ông Trương Đồng H1 đang điều khiển xe mô tô biển số 86F9-8761 chạy cùng chiều với xe của bị cáo, ông H1 điều khiển xe chạy chậm lại rồi chống chân dừng xe bên đường. Thấy vậy, bị cáo điều khiển xe sang phía bên trái xe mô tô của ông H1 để vượt qua xe của ông H1 nhưng không báo tín hiệu xin vượt; lúc này ông H1 cũng chuyển hướng sang phần đường bên trái theo hướng từ xã B đi xã N. Do không làm chủ được tốc độ, bị cáo đã lái chuyển hướng sang phần đường bên trái dẫn đến va chạm vào xe mô tô của ông H1 gây tai nạn. Hậu quả làm ông H1 bị thương tích nặng, được đưa đi cấp cứu đến ngày 24/11/2023 thì tử vong.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số 1365/KLGĐTT-PC09 ngày 20 tháng 12 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận về nguyên nhân ông Trương Đồng H1 tử vong như sau:
“VI. KẾT LUẬN:
1. Các kết quả chính:
- - Chấn thương cột sống cổ: Tổ chức dưới da vùng cổ sau bầm dập, nhiều máu loãng lẫn cục máu sậm màu; gãy một phần mỏm gai C5-C6, tổn thương động mạch đốt sống cổ; dập tủy cổ C3-C6.
- - Xây xát da tại các vùng trên cơ thể (như miêu tả ở trên).
2. Kết luận:
- - Nguyên nhân chết: Sốc chấn thương không hồi phục do chấn thương cột sống cổ, dập tuỷ cổ C3-C6, tổn thương động mạch đốt sống cổ.
- - Nồng độ cồn (E) trong máu của Trương Đồng H1: 6,54mg/100ml.
- - Trong máu của tử thi Trương Đồng H1 không tìm thấy chất ma tuý thường gặp”.
Tại kết luận giám định số 1376/KL-KTHS ngày 20/12/2023, Phòng K Công an tỉnh B kết luận về an toàn kỹ thuật của các xe mô tô như sau:
“V. Kết luận giám định:
a. Tại thời điểm giám định xe mô tô biển số 86F9-8761:
- Phát hiện hệ thống đèn tín hiệu phía sau bên phải và bên trái không hoạt động. Các hệ thống đèn tín hiệu được lắp đặt đầy đủ, không phát hiện hư hỏng, không hoạt động.
- Hệ thống phanh bánh trước và bánh sau được lắp đặt đầy đủ, không phát hiện hư hỏng, còn hiệu lực phanh.
- Hệ thống lái lắp đặt đầy đủ, không phát hiện hư hỏng, còn hiệu lực lái.
a. Tại thời điểm giám định xe mô tô biển số 86B8-482.87:
- Các hệ thống đèn tín hiệu được lắp đặt đầy đủ, không phát hiện hư hỏng, không hoạt động.
- Hệ thống phanh bánh trước và bánh sau được lắp đặt đầy đủ, không phát hiện hư hỏng, còn hiệu lực phanh.
- Hệ thống lái lắp đặt đầy đủ, không phát hiện hư hỏng, còn hiệu lực lái”.
Tại kết luận giám định số 1377/KL-KTHS ngày 20/12/2023, Phòng K Công an tỉnh B kết luận về dấu vết va chạm và vị trí va chạm như sau:
“1. Dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số: 86B8-482.87 và xe mô tô biển số 86F9-8761:
- + Dấu vết va chạm trên xe mô tô biển số 86B8-482.87: Trượt xước, nứt nhựa, mất chất màu đen, bám dính chất màu trắng mặt ngoài mũi chắn bùn bánh xe trước, chiều từ trước ra sau; trượt mất bụi cao su, bám dính chất màu trắng bên phải mặt lăn lốp bánh xe trước, chiều từ ngoài vào tâm trục; trượt xước kim loại, mất chất màu đen, bám dính mảnh kim loại trên vành bên phải bánh xe trước, chiều từ ngoài vào tâm trục; trượt xước kim loại mặt trước đầu đinh ốc cố định trục bánh xe trước bên phải, chiều từ trước ra sau phù hợp với dấu vết va chạm trên xe mô tô biển số 86F9-8761: Gãy, vỡ nhựa, mất chất màu trắng, bám dính chất màu đen mặt ngoài, phần dưới chắn gió bên trái, có chiều từ trái qua phải; gãy vỡ kim loại, bám dính chất màu đen mặt bên trái đầu nòng, chiều từ trái qua phải; gãy vỡ kim loại lóc máy bên trái, chiều từ trái qua phải;
- + Dấu vết va chạm trên xe mô tô biển số 86B8-482.87: Gãy, vỡ nhựa, trượt xước mất chất màu trắng mặt ngoài ốp mặt nạ, chiều từ trước ra sau; vỡ thủng nhựa, bám dính chất màu đen ốp đầu xe, chiều từ trước ra sau phù hợp với dấu vết va chạm trên xe mô tô biển số 86F9-8761: gãy, vỡ nhựa, bám dính chất màu trắng mặt ngoài, phần trên chắn gió bên trái, chiều từ trái qua phải; trượt xước cao su đầu tay nắm bên trái.
2. Căn cứ vào các dấu vết vật chứng để lại trong hồ sơ gửi giám định thì vị trí va chạm giữa xe mô tô biển số 86B8-482.87 và xe mô tô biển số 86F9-8761 ở phần đường bên trái, đường DT 717, theo hướng từ xã B đi xã N - T.”
Tại Cáo trạng số 24/CT-VKSND-TL ngày 12/04/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình Phương A về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh khẳng định Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình Phương A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Phương A mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án.
[2] Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo Nguyễn Đình Phương A đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại ông Trương Đồng H1 số tiền 10.000.000đồng. Trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại là anh Trương Nhật T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Huỳnh Văn T1 đều không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không xét xử giải quyết.
[3] Về vật chứng:
Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm có: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu honda, loại Vairo, biển số 86B8-842.87 và 01 chiếc xe mô tô biển số 86F9-8761, nhãn hiệu CAMELIA, số khung CA100*00006926, số máy 0FMG-3*10631528. Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại các xe mô tô nêu trên chủ sở hữu. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không tiếp tục xử lý các vật chứng này.
[4] Ý kiến của bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại:
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều thống nhất với tội danh, điểm, khoản, điều luật và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo; không có ý kiến tranh luận; đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để bị cáo có điều kiện làm việc, chăm lo cho gia đình, cấp dưỡng cho con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Huỳnh Văn T1 vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt; những người tham gia tố tụng và Đại diện Viện kiểm sát đều đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định xét xử vắng mặt anh T1 là phù hợp.
[2]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên:
Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai thắc mắc, khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên. Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó hoạt động tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên là hợp pháp.
[3] Về thẩm quyền giải quyết:
Bị cáo bị truy tố về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), có mức hình phạt cao nhất đến 05 năm tù, là thuộc tội phạm nghiêm trọng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tội phạm được thực hiện trên địa bàn huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 268 và khoản 1 Điều 269 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[4] Về định tội danh; tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt:
[4.1] Về định tội danh:
Trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai của bị cáo phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án; do đó có đủ căn cứ xác định bị cáo đã thực hiện hành vi như sau: bị cáo Nguyễn Đình Phương A có giấy phép lái xe hạng A1. Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 12/11/2023, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 86B8-482.87, lưu thông trên đường ĐT717 theo hướng từ xã B đi xã N. Khi đến đoạn trước kho lương thực thuộc thôn D, xã M, huyện T; bị cáo phát hiện thấy phía trước cách bị cáo khoảng 40m, có ông Trương Đồng H1 đang điều khiển xe mô tô biển số 86F9-8761 chạy cùng chiều với xe của bị cáo; ông H1 điều khiển xe chạy chậm lại rồi chống chân dừng lại bên đường. Bị báo tưởng ông H1 đứng lại nên đã điều khiển xe sang phía bên trái xe mô tô của ông H1 để vượt qua xe của ông H1 nhưng bị cáo không bật đèn tín hiệu hoặc còi xin vượt; lúc này ông H1 cũng chuyển hướng sang phần đường bên trái theo hướng từ xã B đi xã N. Do không làm chủ được tốc độ, bị cáo đã đánh lái xe chuyển hướng sang phần đường bên trái theo hướng đi của bị cáo, dẫn đến va chạm vào xe mô tô của ông H1, gây tai nạn; hậu quả làm ông H1 bị thương tích nặng, được đưa đi cấp cứu đến ngày 24/11/2023 thì tử vong.
Bị cáo Nguyễn Đình Phương A là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; thế nhưng do không làm chủ được tốc độ, không xử lý tốt tình huống; bị cáo đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn, trật tự công cộng, vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe cho người khác; điều khiển xe mô tô tô tham gia giao thông đi không đúng làn đường, phần đường quy định, vượt xe không đúng quy định, không có báo hiệu bằng đèn hoặc còi xin vượt xe, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 14 Luật giao thông đường bộ, hậu quả gây tai nạn, làm cho ông Trương Đồng H1 bị thương tích dẫn đến tử vong. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân huyện T, tỉnh Bình Thuận truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[4.2] Về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, đã bồi thường thiệt hại cho bên bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại đã xin bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo phạm tội trong trường hợp bị hại cũng có phần lỗi, điều khiển xe mô tô mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn, điều khiển xe mô tô chuyển hướng qua đường không đảm bảo an toàn, vi phạm quy định tại Điều 8 và các khoản 1, 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ; hơn nữa bị cáo đã từng tham gia nghĩa vụ quân sự; do đó, bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4.3] Về quyết định hình phạt:
Hành vi bị cáo đã thực hiện làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn công cộng tại địa phương; gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm minh theo quy định của pháp luật để răn đe, cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, bị cáo được hưởng 05 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong đó có 02 tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự và có nơi cư trú rõ ràng, ổn định; chỉ vì một thời điểm vô ý, thiếu cẩn trọng, bị cáo nhất thời phạm tội; người đại diện hợp pháp của bị hại đã có đơn xin bãi nại và đề nghị không cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để cho bị cáo có điều kiện làm việc, chăm lo cho gia đình, cấp dưỡng cho con nhỏ. Hơn nữa, xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội và việc cho bị cáo được hưởng án treo cũng không làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử hình phạt tù đối với bị cáo nhưng cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát và người đại diện hợp pháp của bị hại tại phiên tòa là phù hợp.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo Nguyễn Đình Phương A đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 10.000.000đồng. Trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại là anh Trương Nhật T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Huỳnh Văn T1 đều không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm. Do đó Hội đồng xét xử không xét xử giải quyết.
[6] Về vật chứng:
Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm có: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu honda, loại Vairo, biển số 86B8-842.87 và 01 chiếc xe mô tô biển số 86F9-8761, nhãn hiệu CAMELIA, số khung CA100*00006926, số máy 0FMG-3*10631528. Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại các xe mô tô nêu trên chủ sở hữu là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và các điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; do đó Hội đồng xét xử không tiếp tục xử lý.
[7]. Về án phí:
Cần căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: xử buộc bị cáo Nguyễn Đình Phương A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Về tội danh:
Căn cứ vào Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình Phương A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
[2]. Về hình phạt:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Phương A 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án – Ngày 23/5/2024.
Giao bị cáo Nguyễn Đình Phương A cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Bình Thuận giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nguyễn Đình Phương A cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Nguyễn Đình Phương A phải chấp hành hình phạt tù của bản án này.
[3]. Về án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Đình Phương A phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4]. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai; bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa đều được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án - Ngày 23/5/2024; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết (Đã giải thích quyền kháng cáo).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Văn Khánh |
Bản án số 24/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Số bản án: 24/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình Phương A phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
