TAND HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 24/2024/DS-ST
Ngày 23-5-2024
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Quốc Đạt
Ông Trần Thành Đô
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Quý Đôn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Vi Đức Thứ- Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2024/TLST-DS ngày 01 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Anh Đồng Bá B, sinh năm 1972 (có mặt)
Địa chỉ HKTT: Thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang
Nơi ở hiện nay: Phố B, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang
-Bị đơn: 1.Anh Đồng Văn T, sinh năm 1988 (có mặt)
2.Chị Giáp Thị D, sinh năm 1989 (có mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:Chị Đồng Thị T1, sinh năm 1973 (vắng mặt)
Địa chỉ HKTT: Thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang
Nơi ở hiện nay: Phố B, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang
-Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1961 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại bản tự khai, các lời khai tiếp theo nguyên đơn anh Đồng Bá B trình bày: Anh với anh Đồng Văn T và chị Giáp Thị D có quan hệ là hàng xóm, gia đình anh có kinh doanh hiệu cầm đồ cho vay tiền. Anh T, chị D có đến gia đình anh nhiều lần hỏi vay tiền mục đích để trả nợ quỹ tín dụng nhân dân và làm ăn, anh có cho anh T, chị D vay tiền cụ thể như sau:
Ngày 08/5/2023 anh cho anh Đồng Văn T và chị Giáp Thị D vay số tiền gốc là 300.000.000 đồng, lãi thỏa thuận là 1,5%/ tháng thời hạn thanh toán là ngày 01/9/2023. Khi cho vay hai bên có viết giấy tờ biên nhận. Anh T chị D đã nhận đủ số tiền và cùng ký điểm chỉ vào mục người vay tiền, có bà Nguyễn Thị N (là mẹ đẻ anh T) chứng kiến và ký vào mục người làm chứng.
Lần 2 vào ngày 01/8/2023 anh cho Đồng Văn T vay tiếp số tiền gốc là 300.000.000 đồng, lãi thỏa thuận là 1,5%/ tháng. Khi cho vay hai bên có viết giấy tờ biên nhận, anh T đã nhận đủ số tiền anh cho vay bằng đưa tiền mặt, hẹn thời hạn thanh toán trả tiền là ngày 01/9/2023. Anh T có ký, điểm chỉ vào mục người vay tiền.
Tổng cộng số tiền gốc hai lần anh cho anh T, chị D vay là 600.000.000 đồng ( Sáu trăm triệu đồng).
Sau khi cho vay tiền xong anh T, chị D đã trả đủ tiền lãi của khoản vay ngày 08/5/2023 đến ngày 01/8/2023 thì không trả nữa, tiền gốc chưa trả anh được đồng nào. Đến hạn thanh toán như thỏa thuận giữa hai bên là ngày 01/9/2023, anh có đến nhà anh T, chị D đòi tiền nhiều lần, nhưng anh T, chị D không trả cho anh được đồng nào tiền gốc và lãi. Việc anh T, chị D không trả tiền đúng hạn như thỏa thuận làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của anh.
Nay anh yêu cầu anh Đồng Văn T và chị Giáp Thị D phải có nghĩa vụ liên đới trả anh số tiền gốc còn nợ của khoản vay ngày 08/5/2023 là 300.000.000 đồng và tiền lãi theo hai bên thống nhất thỏa thuận trong giấy vay tiền mức lãi suất là 1,5%/tháng kể từ ngày 01/8/2023 đến ngày xét xử là 09 tháng 22 ngày số tiền lãi là 43.800.000 đồng. Tổng cả gốc và lãi là 343.800.000 đồng.
Anh yêu cầu anh Đồng Văn T phải có nghĩa vụ trả anh số tiền gốc còn nợ của khoản vay ngày 01/8/2023 là 300.000.000 đồng và tiền lãi theo hai bên thống nhất thỏa thuận trong giấy vay tiền mức lãi suất là 1,5%/tháng kể từ ngày 01/8/2023 đến ngày xét xử là 09 tháng 22 ngày số tiền lãi là 43.800.000 đồng. Tổng cả gốc và lãi là 343.800.000 đồng.
Trường hợp anh T, chị D không trả ngay số tiền gốc và lãi trên, anh yêu cầu tiếp tục tính lãi theo mức thỏa thuận trên đến khi anh T, chị D trả xong khoản nợ gốc và lãi trên.
Đối với lời khai của bà Nguyễn Thị N là người làm chứng đã trình bày là không có căn cứ, khoản nợ của bà N đang nợ anh có giấy tờ riêng không liên quan đến khoản nợ của anh T, chị D mà anh khởi kiện trong vụ án này.
Tại phiên tòa anh Đồng Bá B vẫn giữ nguyên quan điểm trên.
* Tại bản tự khai, các lời khai tiếp theo bị đơn anh Đồng Văn T trình bày: Anh xác nhận lời khai của anh B trình bày về quá trình vay tiền vào ngày 08/5/2023 số tiền 300.000.000 đồng là đúng, mục đích anh vay tiền để đảo sổ Ngân hàng. Đối với ngày 01/8/2023 anh viết giấy vay của anh B số tiền là 300.000.000 đồng, số tiền này là tiền chốt sổ tiền gốc lãi với anh B của các khoản vay trước đó, đây không phải là anh vay tiền của anh B, việc hai bên chốt sổ tiền gốc và lãi này anh không có giấy tờ gì để chứng minh. Nay anh B yêu cầu vợ chồng anh phải có nghĩa vụ liên đới trả anh B số tiền gốc của hai lần vay tiền trên là 600.000.000 đồng quan điểm của anh như sau:
Đối với số tiền vay ngày 08/5/2023 là 300.000.000 đồng, khi anh làm thủ tục vay Ngân hàng Thương mại cổ phần V1 (V2) hai bên đã thống nhất bằng miệng chuyển tiền giải ngân vào tài khoản của anh Đồng Bá B, lý do khi làm thủ tục vay tiền có thỏa thuận khi Ngân hàng cho vay tiền thì sẽ chuyển khoản vào tài khoản của anh Đồng Bá B. Ngày 18/5/2023 Ngân hàng đã giải ngân khoản vay cho vợ chồng anh và đã chuyển số tiền 600.000.000 đồng vào tài khoản của anh Đồng Bá B theo thỏa thuận anh nợ tiền hàng mua sữa của anh B. Khoản vay này anh đã trả đủ không còn nợ của anh B, tuy nhiên sau khi Ngân hàng chuyển tiền xong hai bên không lập văn bản giấy tờ gì để trừ nợ nên anh không có tài liệu chứng cứ gì để chứng minh, nay vợ chồng anh không đồng ý cùng trả khoản nợ này cho anh B.
Đối với số tiền 300.000.000 đồng vay ngày 01/8/2023, là khoản tiền vay riêng của anh, chị D không được biết, nên anh sẽ là người trả nợ cho anh B nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn anh không đồng ý trả lãi theo yêu cầu của anh B.
Tại phiên tòa anh Đồng Văn T vẫn giữ nguyên quan điểm trên.
* Tại bản tự khai, các lời khai tiếp theo bị đơn chị Giáp Thị D trình bày: Chị D xác nhận lời trình bày của anh Đồng Bá B về lần vay tiền ngày 08/5/2023 chị ký giấy vay của anh Đồng Bá B số tiền 300.000.000 đồng là đúng. Đối với số tiền vay ngày 01/8/2023 là 300.000.000 đồng chị không được ký vào giấy vay tiền này, chị không được biết việc anh T vay tiền của anh B.
Nay anh B khởi kiện yêu cầu chị cùng anh T trả số tiền gốc là 300.000.000 đồng vay ngày 08/5/2023 chị không đồng ý trả khoản tiền này cho anh B vì khoản vay này vợ chồng chị đã trả xong cho anh B khi Ngân hàng V3 giải ngân vào tài khoản của anh B ngày 18/5/2024. Tuy nhiên sau khi Ngân hàng chuyển tiền xong giữa vợ chồng chị và anh B không làm thủ tục đối chiếu công nợ với nhau nên chị không có tài liệu chứng cứ gì để giao nộp cho Tòa án. Đối với số tiền anh T vay ngày 01/8/2023 là 300.000.000 đồng, anh T vay tiền chị không biết, không được chi tiêu khoản tiền này, giữa vợ chồng chị có thỏa thuận miệng ai vay người đó sẽ trả. Chị không đồng ý trả nợ cùng anh T khoản vay này.
Tại phiên tòa chị Giáp Thị D vẫn giữ nguyên quan điểm trên.
*Tại bản tự khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Đồng Thị T1 trình bày: Chị là vợ của anh Đồng Bá B. Việc anh B cho anh Đồng Văn T và chị Giáp Thị D vay tiền do anh B là người trực tiếp đứng ra giao dịch. Chị đã được anh B thông báo về việc anh B đang khởi kiện anh T và chị D tại Tòa án. Chị hoàn toàn nhất trí với đơn khởi kiện, các lời khai anh B đã trình bày tại Tòa án và không bổ sung gì thêm. Do bận công việc chị xin vắng mặt tất cả quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, mọi văn bản tố tụng đề nghị Tòa án giao cho anh Đồng Bá B nhận thay.
Tại phiên tòa chị Đồng Thị T1 có đơn giữ nguyên quan điểm trên và xin xét xử vắng mặt.
* Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng bà Nguyễn Thị N trình bày: Ngày 08/5/2023 anh B cho anh T, chị D vay số tiền là 300.000.000 đồng. Số tiền này bà là người vay tiền của anh B nhưng khi viết giấy vay tiền anh B yêu cầu viết trong giấy người vay là anh T và chị D, lý do anh T có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đảm bảo cho khoản tiền vay, còn bà ký vào mục người làm chứng. Số tiền vay này anh B đem ra trả khoản nợ cũ của anh T vay tại quỹ tín dụng nhân dân xã A. Bà đã chứng kiến anh T, chị D đã trả xong cho anh B, nhưng bà không có giấy tờ gì để chứng minh. Ngày 01/8/2023 bà chứng kiến anh T viết giấy vay của anh B số tiền gốc là 300.000.000 đồng (Số tiền này là chốt sổ giữa anh T, bà và anh B). Các giấy tờ vay tiền này ghi trong giấy lãi suất là 1,5%/tháng nhưng thực chất là cho vay lãi ngày là 3000 đồng/1 triệu/1 ngày.
Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị N vẫn giữ nguyên quan điểm trên.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa HĐXX sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Đồng Thị T1 có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 287, Điều 288, Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 470, Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27, Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Đồng Bá B.
Buộc anh Đồng Văn T và chị Giáp Thị D phải có nghĩa vụ liên đới trả anh Đồng Bá B số tiền nợ gốc vay ngày 08/5/2023 là 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) và tiền lãi là 43.800.000 đồng (Bốn mươi ba triệu, tám trăm nghìn đồng).
Tổng cộng là 343.800.000 đồng (Ba trăm bốn mươi ba triệu, tám trăm nghìn đồng).
Buộc anh Đồng Văn T phải có nghĩa vụ trả anh Đồng Bá B số tiền nợ gốc vay ngày 01/8/2023 là 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) và tiền lãi là 43.800.000 đồng (Bốn mươi ba triệu, tám trăm nghìn đồng). Tổng cộng là 343.800.000 đồng (Ba trăm bốn mươi ba triệu, tám trăm nghìn đồng).
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất giải quyết về nghĩa vụ chậm trả tiền, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Ngày 01/3/2024, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản của anh Đồng Bá B với bị đơn anh Đồng Văn T và chị Giáp Thị D có địa chỉ tại thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Về tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Đồng Thị T1 có đơn xin xét xử vắng mặt. HĐXX căn cứ các Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo thủ tục chung.
Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện và các tài liệu do anh Đồng Bá B cung cấp thì thấy: Ngày 08/5/2023 và ngày 01/8/2023 anh Đồng Bá B và anh Đồng Văn T, chị Giáp Thị D có hai lần xác lập hợp đồng vay tài sản số tiền gốc anh B cho anh T, chị D vay tổng cộng là 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng). Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp liên quan đến số tiền trên là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, có kỳ hạn, có thỏa thuận lãi suất 1,5%/ tháng quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, khoản 2 Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung: Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Đồng Bá B, HĐXX xét thấy:
Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ có cơ sở xác định ngày 08/5/2023 giữa anh Đồng Bá B và anh Đồng Văn T, chị Giáp Thị D có xác lập hợp đồng vay tài sản số tiền anh B cho anh T, chị D vay là 300.000.000 đồng. Ngày 01/8/2023 giữa anh Đồng Bá B và anh Đồng Văn T có xác lập hợp đồng vay tài sản số tiền anh B cho anh T vay là 300.000.000 đồng.
Các lần vay tiền anh T, chị D đều ký và điểm chỉ vào phần người vay tiền, hai bên giao nhận tiền bằng hình thức cho vay tiền mặt. HĐXX xét thấy giao dịch dân sự được xác lập giữa hai bên hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 116 của Bộ luật dân sự năm 2015. Khi tham gia giao dịch dân sự anh B và anh T, chị D đều có đủ năng lực hành vi dân sự, mục đích và nội dung giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội, người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện phù hợp với quy định tại Điều 117 của Bộ luật dân sự.
Kể từ khi vay tiền xong đến hạn trả nợ như hai bên thỏa thuận trong giấy vay tiền, phía anh T, chị D đã trả tiền lãi theo thỏa thuận đến ngày 01/8/2023 thì không trả được đồng nào tiền lãi nữa của khoản vay ngày 08/5/2023, số tiền gốc vẫn còn nợ là 300.000.000 đồng, và ngày 01/8/2023 anh T có vay thêm của anh B số tiền là 300.000.000 đồng. Kể từ đó anh T, chị D không trả anh B đồng nào tiền gốc và lãi.
Phía bị đơn anh T xác nhận tổng số hai lần vay tiền của anh B là đúng, nhưng anh cho rằng đã trả khoản vay của ngày 08/5/2023 khi anh làm thủ tục vay tiền Ngân hàng TMCP V1 (V2), ngày 18/5/2023 Ngân hàng đã giải ngân chuyển tiền vào tài khoản của anh Đồng Bá B số tiền 600.000.000 đồng nội dung chuyển tiền là thanh toán tiền mua sữa, nhưng hai bên không lập văn bản giấy tờ gì, anh T không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì để chứng minh. Anh T không đồng ý trả khoản tiền này cho anh B. Đối với khoản vay ngày 01/8/2023 anh T cho rằng đây là việc chốt sổ nợ gốc và lãi giữa anh và anh B, anh T thừa nhận chữ viết, chữ ký trong các giấy vay tiền là của anh, anh chỉ đồng ý trả nợ cho anh B tiền gốc là 300.000.000 đồng, không đồng ý trả lãi.
Phía chị D nhất trí với một phần lời khai của anh T về số tiền chị cùng anh T vay ngày 08/5/2023 của anh B. Đối với số tiền 300.000.000 đồng vay ngày 01/8/2023 là khoản nợ riêng của anh T chị không biết số tiền này nên không đồng ý cùng anh T trả nợ cho anh B.
Phía người làm chứng bà N cho rằng ngày 08/5/2023 anh B cho T, chị D vay số tiền là 300.000.000 đồng. Số tiền này bà là người vay tiền của anh B nhưng khi viết giấy vay tiền anh B yêu cầu viết trong giấy người vay là anh T và chị D do anh T có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đảm bảo cho khoản tiền vay, còn bà ký vào mục người làm chứng. Số tiền vay này anh B đem ra Quỹ tín dụng nhân dân xã A trả khoản nợ cũ của anh T vay trước đó. Bà chứng kiến anh T, chị D đã trả đủ tiền anh B, nhưng không có tài liệu chứng cứ gì để chứng minh. Ngày 01/8/2023 bà chứng kiến anh T có viết giấy vay của anh Đồng Bá B số tiền gốc là 300.000.000 đồng (Số tiền này là chốt sổ giữa anh T, bà và anh B), tuy nhiên bà không ký vào giấy vay tiền với tư cách là người làm chứng cũng không có tài liệu chứng cứ gì để chứng minh cho lời khai của bà.
Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án các giấy vay tiền ngày 08/5/2023 và ngày 01/8/2023 có căn cứ xác định anh Đồng Văn T và chị Giáp Thị D còn nợ anh B số tiền gốc vay ngày 08/5/2023 là 300.000.000 đồng. Anh Đồng Văn T còn nợ anh B số tiền gốc vay ngày 01/8/2023 là 300.000.000 đồng. Việc anh T, chị D vay tiền của anh B, quá trình vay tiền đến hẹn thanh toán theo thỏa thuận là ngày 01/9/2023 phải trả đủ tiền gốc lãi, tuy nhiên anh T, chị D sau khi vay tiền xong không trả tiền đúng hạn, đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền như thỏa thuận ghi trong hai giấy vay tiền. Anh B khởi kiện đề nghị Tòa án buộc anh Đồng Văn T và chị Giáp Thị D phải có nghĩa vụ liên đới trả số tiền gốc vay ngày 08/5/2023 còn nợ là 300.000.000 đồng. Đề nghị Tòa án buộc anh Đồng Văn T phải trả số tiền gốc vay ngày 01/8/2023 còn nợ là 300.000.000 đồng là có căn cứ là phù hợp với quy định tại Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 470 của Bộ luật dân sự cần chấp nhận.
*Về yêu cầu tính tiền lãi: Anh Đồng Bá B yêu cầu anh Đồng Văn T và chị Giáp Thị D phải trả tiền lãi trên số tiền gốc vay ngày 08/5/2023 còn nợ là 300.000.000 đồng kể từ ngày 01/8/2023 tính đến ngày xét xử là 09 tháng 22 ngày mức tính lãi là 1,5%/tháng, số tiền lãi là 43.800.000 đồng.
Yêu cầu anh Đồng V Thìn trả tiền lãi trên số tiền gốc vay ngày 01/8/2023 còn nợ là 300.000.000 đồng kể từ ngày 01/8/2023 tính đến ngày xét xử là 09 tháng 22 ngày mức tính lãi là 1,5%/tháng, số tiền lãi là 43.800.000 đồng.
Phía anh T, chị D không đồng ý trả tiền lãi theo yêu cầu của anh B.
Xét thấy việc anh T, chị D vay tiền của anh B trong giấy vay tiền có ghi lãi suất hai bên thỏa thuận là 1,5%/tháng, phía anh T, chị D sau khi vay tiền đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền lãi như thỏa thuận. Anh B yêu cầu tính lãi mức 1,5%/ tháng tính tiền lãi từ ngày 01/8/2023 đến ngày xét xử, số tiền lãi trên là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận.
*Về nghĩa vụ trả tiền: HĐXX xét thấy việc anh Đồng Văn T và chị Giáp Thị D ngày 08/5/2023 vay số tiền là 300.000.000 đồng của anh B sử dụng để trả nợ quỹ tín dụng, cả anh T và chị D đều ký vào giấy vay tiền có bà N mẹ đẻ anh T làm chứng. Xét khoản nợ anh T, chị D vay của anh B phát sinh trong thời kỳ hôn nhân chung sống giữa anh T và chị D, việc vay tiền để trả nợ chung của vợ chồng, phía anh B yêu cầu anh T và chị D cùng có trách nhiệm trả khoản nợ này. Căn cứ Điều 27, Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình cần buộc anh T và chị D cùng có nghĩa vụ liên đới phải trả cho anh B số tiền gốc vay ngày 08/5/2023 là 300.000.000 đồng và lãi tính từ ngày 01/8/2023 đến ngày xét xử là 43.800.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với số tiền vay lần hai ngày 01/8/2023 là 300.000.000 đồng chỉ có chữ ký của anh T, phía anh T cho rằng đây là nợ riêng của anh không liên quan đến chị D vì anh không nói cho chị D biết nên một mình anh có trách nhiệm trả nợ cho anh B. Phía chị D không thừa nhận cùng anh T vay số tiền này và không đồng ý cùng anh T trả nợ. Phía anh B yêu cầu anh T có trách nhiệm trả khoản nợ riêng này cho anh B. Do vậy HĐXX xác định đây là khoản nợ riêng của anh T, cần buộc anh T phải trả cho anh B số tiền gốc là 300.000.000 đồng và lãi từ ngày 01/8/2023 tính đến ngày xét xử là 43.800.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Về lãi suất phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Do yêu cầu khởi kiện của anh Đồng Bá B được chấp nhận, nên anh B không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả anh Đồng Bá B số tiền 15.260.000 đồng ngày 01/3/2024 đã nộp tạm ứng án phí theo biên lại thu số 0007365 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.
Buộc anh Đồng Văn T và chị Giáp Thị D có nghĩa vụ liên đới phải chịu 17.190.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với khoản nợ chung của vợ chồng.
Buộc anh Đồng Văn T phải chịu 17.190.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với khoản nợ riêng của anh T.
[5] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[6] Về ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 287, Điều 288, Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 470, Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27, Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1.Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Đồng Bá B.
Buộc anh Đồng Văn T và chị Giáp Thị D phải có nghĩa vụ liên đới trả anh Đồng Bá B số tiền nợ gốc vay ngày 08/5/2023 là 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) và tiền lãi là 43.800.000 đồng (Bốn mươi ba triệu, tám trăm nghìn đồng). Tổng cộng là 343.800.000 đồng (Ba trăm bốn mươi ba triệu, tám trăm nghìn đồng).
Buộc anh Đồng Văn T phải có nghĩa vụ trả anh Đồng Bá B số tiền nợ gốc vay ngày 01/8/2023 là 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) và tiền lãi là 43.800.000 đồng (Bốn mươi ba triệu, tám trăm nghìn đồng). Tổng cộng là 343.800.000 đồng (Ba trăm bốn mươi ba triệu, tám trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí: Anh Đồng Bá B không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả anh Đồng Bá B số tiền 15.260.000 đồng (Mười lăm triệu, hai trăm sáu mươi nghìn đồng) ngày 01/3/2024 đã nộp tạm ứng án phí theo biên lại thu số 0007365 tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.
Buộc anh Đồng Văn T và chị Giáp Thị D phải chịu 17.190.000 đồng (Mười bẩy triệu, một trăm chín mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc anh Đồng Văn T phải chịu 17.190.000 đồng (Mười bẩy triệu, một trăm chín mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3.Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Quỳnh Hoa |
Bản án số 24/2024/DS-ST ngày 23/05/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 24/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: anh B, anh T- VTS
