Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Minh và bà Nguyễn Thanh Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Bích Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Vũ Tràng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 19/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 23/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Chí H

Họ và tên: Lê Chí H; giới tính: Nam; sinh năm 2004; nơi sinh: tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: Số F, Tổ C, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 9/12.

  • - Cha: Lê Văn T, sinh năm 1972.
  • - Mẹ: Lê Thị H1, sinh năm 1966.
  • - Anh, chị, em: 02 người; lớn nhất sinh năm 1990; nhỏ nhất sinh năm 1992.
  • - Vợ, con: Chưa có.
  • - Tiền án, tiền sự: Không có.
  • - Tạm giữ, tạm giam: Không có.

Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Em Trần Thanh H2, sinh ngày 06/12/2008 (vắng mặt).

Người đại diện theo pháp luật của bị hại:

  • - Chị Cao Thanh T1, sinh năm 1982 (có mặt).
  • - Anh Trần Ngọc P, sinh năm 1974 (có mặt).

Cùng nơi cư trú: Tổ B, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Người làm chứng:

  • - Chị Lê Thị H3, sinh năm 1977 (có mặt).
  • Nơi cư trú: Số D, KDC R, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
  • - Em Cao Nhật L, sinh ngày 09/11/2008 (vắng mặt).
  • Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
  • - Em Phạm Hữu T2, sinh ngày 13/7/2008 (vắng mặt).
  • Nơi cư trú: Số D, ấp P,xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
  • - Em Cao Long T3, sinh ngày 05/12/2011 (vắng mặt).
  • Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Người giám hộ cho các em L, T2T3:

Anh Cao Minh T4, sinh năm 1987 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Số D, ấp P ,xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 10/2022, thông qua bạn bè mai mối, bị cáo Lê Chí H quen biết và phát sinh tình cảm yêu thương với em Trần Thanh H2, sinh ngày: 06/12/2008. Vì bị gia đình ngăn cản nên em H2 đề nghị quan hệ tình dục để buộc gia đình phải chấp nhận thì được bị cáo đồng ý. Khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 18/10/2023, bị cáo hẹn em H2 đi đến thành phố S để chơi; sau đó, cả hai đến nhà nghỉ Á thuộc khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp thuê phòng số 06 để nghỉ. Tại đây, bị cáo H sử dụng bao cao su quan hệ tình dục với em H2 một lần.

Đến ngày 24/11/2023, bà Cao Thanh T1 là mẹ ruột của em Trần Thanh H2 biết sự việc nên đã đưa em H2 đến Công an phường A, thành phố S tố giác yêu cầu xử lý đối với hành vi của bị cáo Lê Chí H. Qua làm việc tại cơ quan Công an, bị cáo H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại bản kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số: 03/KLGDTE-TTPYĐT ngày 29/11/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Đ kết luận:

  1. Các kết quả chính:
  • - Kết quả khám giám định:
    • + Môi lớn không trầy xước, không tổn thương.
    • + Môi bé mép trong xung huyết hai bên.
    • + Âm đạo, âm hộ không trầy xước, không tổn thương.
    • + Màng trinh giãn, không vết rách.
    • - Kết quả khám chuyên khoa: Không.
    • - Kết quả cận lâm sàn: Tìm không thấy tinh trùng trong mẫu thử
    • - Kết quả khác: Không.
  1. Kết luận:
  • + Môi lớn không trầy xước, không tổn thương.
  • + Môi bé mép trong xung huyết hai bên.
  • + Âm đạo, âm hộ không trầy xước, không tổn thương.
  • + Màng trinh giãn, không vết rách.
  • + Tìm không thấy tinh trùng trong mẫu thử.
  • - Tình trạng tổn thương trên cơ thể và xếp tỷ lệ tổn thương cơ thể: Không.
  • - Các dấu vết thương tích, cơ thể hình thành thương tích, các bệnh truyền qua đường tình dục, sự có thai: Không.
  1. Kết luận khác: Tổn thương trên do vật tày gây ra.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bà Cao Thanh T1, ông Trần Ngọc P là cha mẹ ruột của em Trần Thanh H2 yêu cầu bị cáo H bồi thường tiền tổn thất tinh thần và sức khỏe tổng cộng là 100.000.000đ. Bị cáo H đồng ý bồi thường số tiền này. Tuy nhiên, do chưa đủ tiền nên bị cáo tạm thời bồi thường số tiền 10.000.000đ nhưng bà T1 và ông P không đồng ý nhận. Do đó, bị cáo đã giao nộp số tiền 10.000.000đ cho Cơ quan điều tra tạm giữ.

Tại bản cáo trạng số: 20/CT-VKSTPSĐ ngày 25/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc đã truy tố bị cáo Lê Chí H về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại khoản 1 Điều 145 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định đã truy tố; phân tích, nhận định hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị HĐXX tuyên bố: Bị cáo Lê Chí H phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Về hình phạt chính: đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 145, điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Chí H mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo về việc bồi thường thiệt hại sức sức và tổn thất tinh thần cho bị hại số tiền 100.000.000đ.
  • - Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố; bị cáo không bào chữa, không tranh luận.
  • - Người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại sức khỏe và tổn thất tinh thần số tiền 100.000.000đ. Bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 100.000.000đ theo yêu cầu của người đại diện hợp pháp của bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người đại diện của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thu thập theo trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự và đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Từ đó, đủ cơ sở xác định:

Từ mối quan hệ tình cảm, khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 18/10/2023, tại Phòng số 06 nhà nghỉ Á thuộc khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo Lê Chí H đã có hành vi quan hệ tình dục với em Trần Thanh H2, sinh ngày 06/12/2008. Mặc dù, em Hòa đồng t nhưng tại thời điểm quan hệ, em H2 chưa đủ 16 tuổi. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 145 của Bộ luật hình sự.

Tại Điều 145 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 142 và Điều 144 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm...”.

[3]. Xét thấy: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm hại thân thể, danh dự, nhân phẩm; ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về thể chất, tinh thần của bị hại mà còn gây mất an ninh trật tự địa phương. Tuy bị hại đang trong độ tuổi vị thành niên, còn hạn chế về nhận thức, kinh nghiệm sống nhưng để thỏa mãn dục vọng của bản thân, bị cáo đã thực hiện hành vi quan hệ tình dục với lỗi cố ý trực tiếp. Cho nên, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội đã thực hiện.

[4]. Xét thấy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật. Đồng thời, luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là khách quan, toàn diện, đúng người, đúng tội và đúng tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo nhận tội, không tranh luận, không bào chữa. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử lý nghiêm, phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo; đồng thời để răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện khắc phục một phần hậu quả đã gây ra. Vì vậy, cần áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo.

[7]. Về trách nhiệm dân sự:

Người đại diện của bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại sức khỏe và tổn thất tinh thần số tiền 100.000.000đ. Bị cáo đồng ý bồi thường số tiền này. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bên.

[8]. Về tài sản tạm giữ:

Tiếp tục tạm giữ số tiền 10.000.000đ của bị cáo H giao nộp để đảm bảo thi hành án.

(Hiện số tiền này do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc đang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/3/2024).

[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần nghĩa vụ phải thực hiện theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 145; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Chí H phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Chí H mức án 01 năm tù (một năm tù). Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự; các điều 584, 590 và 592 của Bộ luật dân sự:

Buộc bị cáo Lê Chí H bồi thường thiệt hại do sức khỏe, danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm cho bà Cao Thanh T1, ông Trần Ngọc P (là người đại diện theo pháp luật của bị hại - em Trần Thanh H2) số tiền 100.000.000đ (Bằng chữ: Một trăm triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về tài sản tạm giữ:

Tiếp tục tạm giữ số tiền 10.000.000đ của bị cáo H giao nộp để đảm bảo thi hành án.

(Hiện số tiền này do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc đang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/3/2024).

4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

Bị cáo Lê Chí H nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 5.000.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự

Bị cáo, người đại diện của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh ĐT; (1b)
  • - VKSND Tp. Sa Đéc; (2b)
  • - Công an Tp. Sa Đéc; (4b)
  • - Chi cục THA Tp. Sa Đéc; (1b)
  • - Sở Tư pháp; (1b)
  • - Thi hành án phạt tù; (1b)
  • - Những người tham gia tố tụng; (1b)
  • - Lưu VT, TP; (2b)
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Phạm Hoàng Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/TLST-HS ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

  • Số bản án: 19/2024/TLST-HS
  • Quan hệ pháp luật: Tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội Điều 145
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger