Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 24/2024/HNGĐ-ST

Ngày 23 tháng 4 năm 2024

“V/v tranh chấp về hôn nhân

và gia đình, ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lư Thị Châu Ngọc.

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bằng và ông Phan Trọng Điền.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Trí, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Kim Thoa, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 322/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02/4/2024, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Trương Thị Thanh T, sinh năm 1977; Địa chỉ: số A, Nguyễn Trường T1, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn L, sinh năm 1969; Địa chỉ: số A, Nguyễn Trường T1, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.

Bà T có mặt, ông L vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trương Thị Thanh T trình bày:

Bà T và ông L tự tìm hiểu quen biết nhau vào năm 1999, sau đó tiến đến hôn nhân. Đến ngày 21/4/2000 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh An Giang. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 31/HT, quyển số 01/2000, cấp ngày 21/4/2000. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không hợp nhau dẫn đến thường xuyên cãi vã, nay bà T yêu cầu ly hôn với ông L.

Về con chung: Có 01 con chung tên Huỳnh Trương Như Q, sinh ngày 18/5/2002, con chung đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho ông L nhưng vắng mặt không có lý do.

Tòa án tiến hành mở phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải giữa các đương sự tuy nhiên ông L vắng mặt không có lý do nên không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa,

* Nguyên đơn bà T vẫn giữ yêu cầu ly hôn với ông L.

* Phát biểu của Kiểm sát viên :

+ Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 48 BLTTDS. Xác định thẩm quyền thụ lý, quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách pháp lý của các đương sự, thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án và lập hồ sơ đúng theo quy định tại các Điều 195, 196, 198 và Điều 203 BLTTDS năm 2015; Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

+ Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt nhiều lần không lí do, thuộc trường hợp Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 BLTTDS năm 2015.

+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Vào năm 2000, bà Trương Thị Thanh T và ông Huỳnh Văn L đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND phường C, thành phố C, nên được xem là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm. Nhận thấy, tình cảm không còn, không thể hàn gắn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông L. Bị đơn ông L mặc dù được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng không tham gia tố tụng. Xét, vợ chồng phải có trách nhiệm yêu thương, chung thủy, quan tâm chăm sóc giúp đỡ cùng chia sẻ công việc trong gia đình. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức nghiêm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà T yêu cầu ly hôn với ông L là có căn cứ chấp nhận. Về con chung hiện tại đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không đề cập xem xét giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Căn cứ vào các Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Thanh T được ly hôn với bị đơn ông Huỳnh Văn L

Từ các phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn. Bị đơn cư trú trên địa bàn thành phố C. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông Huỳnh Văn L được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành vắng mặt bị đơn như theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về nội dung:

[3] Xét về quan hệ hôn nhân, bà T và ông L kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 31/HT, quyển số 01/2000, cấp ngày 21/4/2000 nên được xem là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.

Bà T yêu cầu ly hôn ông L, nêu nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng ly thân từ 2021 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần mở phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông L nhiều lần vắng mặt không có lý do, không có ý kiến gì về việc ly hôn. Từ đó, cho thấy ông L không thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của bà T có căn cứ chấp nhận.

[4] Về con chung: Hiện tại con chung tên Huỳnh Trương Như Q, sinh ngày 18/5/2002 đã trưởng thành và có khả năng lao động, bà T không yêu cầu giải quyết nên không đề cập.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Bà T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003543 ngày 12/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc; bà T không phải nộp thêm án phí.

Ông L không phải chịu án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147; Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Thanh T;

1. Về hôn nhân: Bà Trương Thị Thanh T được ly hôn với ông Huỳnh Văn L.

Giấy chứng nhận kết hôn số 31/HT, quyển số 01/2000 của Ủy ban nhân dân Phường C, thị xã C (nay là thành phố C), tỉnh An Giang cấp ngày 21/04/2000 không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Huỳnh Trương Như Q, sinh ngày 18/5/2002 đã trưởng thành và có khả năng lao động.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trương Thị Thanh T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai số 0003543 ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, bà T đã nộp đủ;

Ông Huỳnh Văn L không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Trương Thị Thanh T có quyền kháng cáo Tòa án nhân dân tỉnh An Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của ông Huỳnh Văn L là 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh An Giang (1);
  • - Viện kiểm sát ND Tỉnh (1)
  • - Viện kiểm sát TPCĐ (1);
  • - Thi hành án DS TPCĐ (1);
  • - Các đương sự;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu hồ sơ (1),
  • - Lưu văn phòng (1)

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lư Thị Châu Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/HNGĐ-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn

  • Số bản án: 24/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger