Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÁI NƯỚC

TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 24/2024/HS-ST

Ngày 22 – 7 – 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Trúc Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Tấn Lộc

Ông Trần Hoàng Bé

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Khiếm – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước tham gia phiên tòa:

Ông Lâm Văn Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2024/TLST-HS, ngày 21 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST-HS, ngày 09 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Minh Q - Sinh ngày 10/10/2002 tại huyện C, tỉnh Cà Mau.

Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Châu Văn Đ và bà Trần Thị C; Có vợ: Trần Thị Ú; Bị cáo chưa có con; Tiền án: không, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024, đến ngày 29/3/2024 bị khởi tố và chuyển tạm giam cho đến nay.

Bị cáo bị tạm giam có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 20/3/2024 tại quán C1 thuộc khóm B, thị trấn C, huyện C, Công an huyện C kiểm tra trên người của Trần Minh Q thì phát hiện trong túi quần Jeans bên trái phía trước của Q đang mặc có cất giấu 01 gói thuốc lá màu xanh, nhãn hiệu “SEVEN DIAMONDS”, bên trong gói thuốc có 14 điếu thuốc lá và 03 bọc nilon màu trắng có chứa ma túy đá, loại Methamphetamine, lực lượng làm nhiệm vụ đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định, qua thử test nước tiểu phát hiện Q dương tính với ma túy.

Quá trình điều tra, Q thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khai nhận như sau: Vào khoảng 20 giờ ngày 19/3/2024 Q cùng vợ là Trần Thị Ú đi ăn uống tại khu vực phía trước Nhà thiếu nhi huyện C thì Trương Việt P (tên thường gọi là Hoài T) gọi điện qua ứng dụng Zalo kêu Q liên hệ Nguyễn Quốc D (tên thường gọi là Dũng I) lấy dùm Phước 02 bọc ma túy dạng cỏ, Q có nhờ P bảo lãnh với D cho Q mua thiếu 300.000 đồng ma túy đá, tiền mua ma túy Q sẽ trả lại sau cho P thì P đồng ý. Sau đó, D chạy xe môtô (không rõ xe gì, biển số mấy) đến trước Nhà thiếu nhi giao ma túy cho Q, D đưa cho Q 01 gói (bao) thuốc lá màu xanh, nhãn hiệu “SEVEN DIAMONDS”, Q kiểm tra bên trong gói thuốc lá trên có khoảng 10 điếu thuốc lá, 02 bọc ma túy dạng cỏ và 03 bọc nilon màu trắng chứa ma túy đá, Q bỏ gói thuốc lá chứa ma túy vào túi quần cất giấu. Sau khi nhận được ma túy, trên đường về nhà Q ghé vào nhà của P đưa cho P 02 bọc ma túy dạng cỏ, còn gói thuốc lá đựng 03 bọc ma túy đá Q cất giấu để sử dụng. Đến khoảng 13 giờ ngày 20/3/2024 P đến nhà rủ Q cùng đi ra thị trấn C gặp D dẫn đi chơi ma túy, khi đi Q mang theo gói thuốc lá đựng 03 bọc ma túy đá D đã đưa trước đó để sử dụng, Q bỏ gói thuốc lá trên vào túi quần Jeans bên trái phía trước rồi cùng P đến quán cà phê Côi X 6 uống nước, ngồi đợi D đến, sau đó P đi rước bạn, kêu Q ngồi đợi, Q ngồi tại quán C1 6 một lúc thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang Q về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số 152/KL-KTHS ngày 23/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 03 (ba) bọc nilon màu trắng được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu PS3, mã số PS3 2033280 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,2709gam, loại Methamphetamine.

(Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ).

Vật chứng đã tạm giữ gồm: 01 (một) gói (bao) thuốc lá màu xanh, nhãn hiệu SEVEN DIAMONDS bên trong có 14 điếu thuốc lá và 03 bọc nilon màu trắng có chứa tinh thể màu trắng, sau khi giám định được niêm phong trong phong bì hoàn mẫu số 152/KL-KTHS ngày 23 tháng 3 năm 2024; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, số IMEL1 864647055541737, số IMEL2 864647055541729, có gắn 01 sim Viettel trên sim có dãy số 8984048000908477555, số thuê bao 0378.474.432.

Tại Cáo trạng số 30/CT – VKS, ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước đã truy tố bị cáo Trần Minh Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện C thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố, sau khi phân tích, đánh giá chứng cứ, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cho xã hội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã kết luận và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, 38 Bộ luật Hình sự; Điều 106, 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Minh Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Minh Q từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 02 (H) năm tù.

Về xử lý vật chứng:

Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì hoàn mẫu số 152/KL-KTHS ngày 23/3/2024 được niêm phong kín của Phòng K công an tỉnh C có chữ ký của Lê Quốc H1Dương Hải Đ1.

Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, số IMEL1 864647055541737, số IMEL2 864647055541729, có gắn 01 sim Viettel trên sim có dãy số 8984048000908477555, thuê bao 0378.474.432 điện thoại đã qua sử dụng.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu là 200.000 đồng.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Q đã được Công an huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với Trương Việt PNguyễn Quốc D, quá trình điều tra xác định hiện P và D đã bỏ địa phương đi, không xác định được địa chỉ; D không thừa nhận vào ngày 19/3/2024 có bán ma túy cho Q nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không tiến hành đối chất được giữa D và Q. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định tách hành vi, tài liệu liên quan đến P, D để tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã ăn năn hối cải nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh của bị cáo:

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước đã mô tả và truy tố bị cáo là không oan cho bị cáo. Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giử được, biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ, ngày 20/3/2024 tại quán C1 thuộc khóm B, thị trấn C, huyện C, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm hình sự, kinh tế và ma túy Công an huyện C tiến hành bắt quả tang và kiểm tra trong túi quần Jeans bên trái phía trước của Trần Minh Q đang mặc có cất giấu 03 bọc nilon màu trắng chứa ma túy để trong 01 gói thuốc lá màu xanh, nhãn hiệu “SEVEN DIAMONDS” được giám định là 0,2709 gam ma túy đá, loại Methamphetamine do Q tàng trử để sử dụng. Hành vi tàng trữ 0,2709 gam ma túy đá, loại Methamphetamine của bị cáo Trần Minh Q đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước truy tố bị cáo Trần Minh Q theo tội danh và Điều luật viện dẫn trên là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội không oan, sai cho bị cáo.

Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có nhận thức bình thường, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất gây nghiện nói chung và ma túy nói riêng của Nhà nước. Bị cáo hoàn toàn ý thức được hành vi tàng trữ các chất ma túy là vi phạm pháp luật và những tác hại, hệ lụy từ ma túy gây ra cho bản thân người nghiện, cho gia đình và xã hội, nhưng vì để thỏa mãn cơn nghiện của mình mà bị cáo không ngần ngại cất giữ ma túy để sử dụng thì đã bị phát hiện và bắt giữ.

Hành vi của bị cáo không chỉ vi phạm pháp luật mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương; gây tâm lý lo âu cho người dân. Do đó, cần phải có hình phạt nghiêm để bị cáo có thời gian cai nghiện, cải tạo thành người công dân tốt khi hòa nhập cộng đồng nhằm đạt được mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[3] Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

Tình tiết tăng nặng: Không.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình nên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Q đã được Công an huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.

[5] Đối với Trương Việt PNguyễn Quốc D, quá trình điều tra xác định hiện P và D đã bỏ địa phương đi, không xác định được địa chỉ. D không thừa nhận vào ngày 19/3/2024 có bán ma túy cho Q nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không tiến hành đối chất được giữa D với Q. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định tách hành vi, tài liệu liên quan đến P, D để tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (Một) phong bì hoàn mẫu số 152/KL-KTHS ngày 23/3/2024 được niêm phong kín của Phòng K công an tỉnh C có chữ ký của Lê Quốc H1Dương Hải Đ1, xét cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01(Một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, số IMEL1 864647055541737, số IMEL2 864647055541729, có gắn 01 sim Viettel trên sim có dãy số 8984048000908477555, thuê bao 0378.474.432 điện thoại đã qua sử dụng, là của bị cáo dùng để liên lạc khi mua ma tuý, bị cáo cũng không có yêu cầu nhận lại nên xét cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước là phù hợp và có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm, buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và các Điều 38, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Minh Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  1. Xử phạt: Bị cáo Trần Minh Q 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 21 tháng 3 năm 2024.
  2. Về xử lý vật chứng:
    • Tịch thu, tiêu huỷ: 01 (Một) phong bì hoàn mẫu số 152/KL-KTHS ngày 23/3/2024 được niêm phong kín của Phòng K công an tỉnh C có chữ ký của Lê Quốc H1Dương Hải Đ1.
    • Tịch thu, sung quỹ nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, số IMEL1 864647055541737, số IMEL2 864647055541729, có gắn 01 sim Viettel trên sim có dãy số 8984048000908477555, thuê bao 0378.474.432 điện thoại đã qua sử dụng.

    Toàn bộ vật chứng hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21 tháng 6 năm 2024.

  3. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Minh Q phải chịu là 200.000 đồng, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Cái Nước;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Cái Nước;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Cái Nước;
  • - Chi cục THADS huyện Cái Nước;
  • - Sở tư pháp tỉnh Cà Mau;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Trúc Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 24/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt: Bị cáo Trần Minh Q 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger