Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 24/2024/KDTM-ST

Ngày: 22 - 5 - 2024

V/v Tranh chấp hợp đồng cho thuê xe ô tô

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Vương Thị Hồng Thanh
  2. Ông Nguyễn Văn Hoàn

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số: 50/2023/TLST- KDTM ngày 10 tháng 10 năm 2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng cho thuê xe ô tô” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-KDTM ngày 15 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần V; địa chỉ: Số A, Hồ N, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Hữu H, sinh năm 1987; địa chỉ: Số B đường E, Trung tâm hành chính thành phố D, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Công ty cổ phần X; địa chỉ: Số A đường V, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Minh Q - Chức vụ: Tổng giám đốc. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 9 năm 2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu H trình bày:

Công ty Cổ phần V (sau đây gọi tắt là SATSCO) và Công ty Cổ phần X (sau đây gọi tắt là X) đã ký kết các hợp đồng cho thuê xe ô tô, theo đó SATSCO cho LUSTER thuê xe ô tô qua các hợp đồng như sau:

  1. Hợp đồng cho thuê xe ô tô số 1136/2020/HĐ/SATCO ngày 21/8/2020, SATSCO cho LUSTER thuê 01 xe ô tô với thông tin chi tiết như sau:

    Hiệu xe: MITSUBISHI ATTRAGE, biển số: 51G-795.57, số máy: 3A92UHJ6613, số khung: A13AJH004171. Giá thuê xe là 8.000.000 đồng/tháng (chưa bao gồm thuế VAT). Hai bên đã lập và ký biên bản bàn giao xe ngày 21/8/2020. Tiền thuê bắt đầu tính từ ngày 21/8/2020.

    Trong quá trình thực hiện hợp đồng nêu trên, LUSTER đã thanh toán cho SATSCO tiền thuê xe của xe số 51G-795.57 chung với các xe thuê khác.

    Ngày 09/02/2021, SATSCO nhận lại xe và hai bên chấm dứt việc thuê xe trên thực tế. Tuy nhiên, giữa hai bên vẫn chưa ký biên bản thanh lý hợp đồng nêu trên, tính đến thời điểm SATSCO nhận lại được chiếc xe thì LUSTER còn nợ SATSCO tiền thuê xe tháng 01 + 02/2021 với số tiền là 10.400.000 đồng (theo hóa đơn giá trị gia tăng số 0000410 ngày 31/3/2021).

  2. Hợp đồng cho thuê xe ô tô số 2208/2020/HDDV/HKMN-LUSTER ngày 22/8/2020, SATSCO cho LUSTER thuê 01 xe ô tô với thông tin chi tiết như sau:

    Hiệu xe: MITSUBISHI OUTLANDER, biển số: 51H-210.21, số khung: RLAITGF3MK1000381, số máy: BH59594B12. Giá thuê xe là 21.000.000 đồng/tháng (chưa bao gồm thuế VAT). Hai bên đã lập và ký biên bản bàn giao xe ngày 22/8/2020. Tiền thuê bắt đầu tính từ ngày 22/8/2020.

    Trong quá trình thực hiện hợp đồng nêu trên, LUSTER đã thanh toán cho SATSCO tiền thuê xe của xe số 51H-210.21 chung với các xe thuê khác.

    Ngày 25/3/2021, LUSTER bàn giao lại chiếc xe nêu trên cho SATSCO và hai bên chấm dứt việc thuê xe trên thực tế. Tuy nhiên, giữa hai bên vẫn chưa ký biên bản thanh lý hợp đồng, tính đến thời điểm LUSTER bàn giao lại xe cho SATSCO thì LUSTER còn nợ SATSCO tiền thuê xe tháng 01 + 02 + 03/2021 với số tiền là 58.800.000 đồng (theo hóa đơn giá trị gia tăng số 0000410 ngày 31/3/2021).

  3. Hợp đồng cho thuê xe ô tô số 2208/2020/HDDV/HKMN-LUSTER ngày 05/9/2020, SATSCO cho LUSTER thuê 01 xe ô tô với thông tin chi tiết như sau:

    Hiệu xe: TOYOTA INNOVA, biển số: 51F-053.66, số khung: RL4XW42G8F9415469, số máy: 1TR7931817. Giá thuê xe là 11.000.000 đồng/tháng (chưa bao gồm thuế VAT). Hai bên đã lập và ký biên bản bàn giao xe ngày 05/9/2020. Tiền thuê bắt đầu tính từ ngày 05/9/2020.

    Tuy nhiên, sau đó LUSTER đổi ý muốn đổi sang xe khác nên sau đó hai bên đã ký phụ lục hợp đồng cho thuê xe số 2208/2020/HDDV/HKMN-LUSTER/PL.01 ngày 12/9/2020 để cho LUSTER đổi từ xe 51F – 05366 sang xe số 51G-515.91, với thông tin chi tiết xe số 51G-515.91 như sau:

    Hiệu xe: TOYOTA INNOVA, biển số: 51G-515.91, số khung: RL4JW8EM0H3232705, số máy: 1TRA368281. Giá thuê xe là 12.000.000 đồng/tháng (chưa bao gồm thuế VAT). Hai bên đã lập và ký biên bản bàn giao xe ngày 12/9/2020. Tiền thuê bắt đầu tính từ ngày 05/9/2020.

    Trong quá trình thực hiện hợp đồng nêu trên, LUSTER đã thanh toán cho SATSCO tiền thuê xe của xe số 51G-515.91 chung với các xe thuê khác.

    Ngày 22/4/2021, LUSTER đã thông báo qua điện thoại cho SATSCO về việc chiếc xe nêu trên đã bị mất, tuy nhiên, giữa hai bên vẫn chưa ký biên bản thanh lý hợp đồng, tính đến thời điểm chiếc xe bị mất thì LUSTER còn nợ SATSCO tiền thuê xe tháng 01 +02+3/2021 với số tiền là 36.000.000 đồng (theo hóa đơn giá trị gia tăng số 0000410 ngày 31/3/2021).

  4. Hợp đồng cho thuê xe ô tô số 1154/2020/HĐ/SATSCO ngày 14/9/2020, theo đó, SATSCO cho LUSTER thuê 01 xe ô tô với thông tin chi tiết như sau:

    Hiệu xe: MITSUBISHI OUTLANDER, biển số: 51G-596.14, số khung: GF3MJ1000087, số máy: XP03754B12. Giá thuê xe là 18.000.000 đồng/tháng (chưa bao gồm thuế VAT). Hai bên đã lập và ký biên bản bàn giao xe ngày 14/9/2020. Tiền thuê bắt đầu tính từ ngày 14/9/2020.

    Trong quá trình thực hiện hợp đồng nêu trên, LUSTER đã thanh toán cho SATSCO tiền thuê xe của xe số 51G-596.14 chung với các xe thuê khác.

    Ngày 22/02/2021, hai bên đã ký biên bản thanh lý hợp đồng nêu trên và cũng trong ngày 22/02/2021, LUSTER bàn giao lại chiếc xe nêu trên cho SATSCO và hai bên chấm dứt việc thuê xe trên thực tế. Tuy nhiên, tính đến thời điểm ký biên bản thanh lý hợp đồng thì LUSTER còn nợ SATSCO tiền thuê xe tháng 01 + 02/2021 với số tiền là 31.800.000 đồng (theo hóa đơn giá trị gia tăng số 0000410 ngày 31/03/2021).

  5. Hợp đồng cho thuê xe ô tô số 1149/2020/HD/SATSCO ngày 15/9/2020, theo đó, SATSCO cho LUSTER thuê 01 xe ô tô với thông tin chi tiết như sau:

    Hiệu xe: MITSUBISHI ATTRAGE, số khung: A13AKH000877, số máy: 3A92UHM8555, biển số: 51G-791.79. Giá thuê xe là 8.000.000 đồng/tháng (chưa bao gồm thuế VAT). Hai bên đã lập và ký biên bản bàn giao xe ngày 08/9/2020. Tiền thuê bắt đầu tính từ ngày 15/9/2020.

    Trong quá trình thực hiện hợp đồng nêu trên, LUSTER đã thanh toán cho SATSCO tiền thuê xe của xe số 51G-791.79 chung với các xe thuê khác.

    Ngày 04/3/2021, LUSTER bàn giao lại chiếc xe nêu trên cho SATSCO và hai bên chấm dứt việc thuê xe trên thực tế. Tuy nhiên, giữa hai bên vẫn chưa ký biên bản thanh lý hợp đồng, tính đến thời điểm LUSTER bàn giao lại xe cho SATSCO thì LUSTER còn nợ SATSCO tiền thuê xe tháng 01 +02+3/2021 với số tiền là 16.900.000 đồng (theo hóa đơn giá trị gia tăng số 0000410 ngày 31/3/2021).

  6. Hợp đồng cho thuê xe ô tô số 1448/2020/HD/SATSCO ngày 28/10/2020, SATSCO cho LUSTER thuê 01 xe ô tô với thông tin chi tiết như sau:

    Hiệu xe: MITSUBISHI ATTRAGE, biển số: 51G-796.04, số khung: A13AJH003912, số máy: 3A92UHH8836. Giá thuê xe là 8.000.000 đồng/tháng (chưa bao gồm thuế VAT). Hai bên đã lập và ký biên bản bàn giao xe ngày 28/10/2020. Tiền thuê bắt đầu tính từ ngày 28/10/2020.

    Trong quá trình thực hiện hợp đồng nêu trên, LUSTER đã thanh toán cho SATSCO tiền thuê xe của xe số 51G-796.04 chung với các xe thuê khác.

    Ngày 21/01/2021, LUSTER bàn giao lại chiếc xe nêu trên cho SATSCO và hai bên chấm dứt việc thuê xe trên thực tế. Ngày 22/01/2021, hai bên đã ký biên bản thanh lý hợp đồng, tuy nhiên, tính đến thời điểm ký biên bản thanh lý hợp đồng thì LUSTER còn nợ SATSCO tiền thuê xe tháng 01/2021 của hợp đồng thuê xe nêu trên với số tiền là 4.000.000 đồng (theo hóa đơn giá trị gia tăng số 0000410 ngày 31/3/2021).

Như vậy, tổng số tiền thuê xe mà LUSTER còn nợ SATSCO theo các hợp đồng thuê xe nêu trên và theo hóa đơn giá trị gia tăng số 0000410 ngày 31/3/2021 là 157.900.000 đồng. Bên cạnh đó, SATSCO cũng phát sinh việc thuê của LUSTER một số xe để hoạt động kinh doanh và phát sinh số tiền thuê xe của SATSCO đối với LUSTER là 80.600.600 đồng. Sau đó, SATSCO có làm biên bản cấn trừ khoản công nợ nêu trên giữa hai bên (157.900.000 đồng - 80.600.600 đồng = 77.299.400 đồng) và SATSCO có liên hệ với LUSTER để đề nghị LUSTER ký xác nhận hồ sơ này, tuy nhiên SATSCO đã không liên hệ được với phía LUSTER để ký hoàn tất hồ sơ cấn trừ công nợ nêu trên. Do đó, sau khi thực hiện cấn trừ khoản công nợ nêu trên thì số tiền thuê xe còn lại mà LUSTER còn nợ SATSCO là 77.299.400 đồng.

Đối với chiếc xe số 51G-515.91 theo hợp đồng cho thuê xe số 2208/2020/HDDV/HKMN- LUSTER ngày 05/9/2020 và phụ lục hợp đồng cho thuê xe số 2208/2020/HDDV/HKMN- LUSTER/PL.01 ngày 12/9/2020, sau khi thuê chiếc xe ô tô này từ SATSCO thì LUSTER đã cho bên thứ ba thuê lại chiếc xe nêu trên. Quá trình sử dụng, bên thứ ba đã cà số máy, số khung của xe thuê và dùng vào việc vận chuyển hàng cấm vi phạm pháp luật dẫn đến chiếc xe bị Công an thu giữ. Sau quá trình điều tra, xác minh thì cơ quan Công an đã quyết định giao trả chiếc xe cho chủ xe ban đầu là SATSCO. Sau khi nhận lại xe thì SATSCO phát hiện xe đã bị cà số khung, số máy nên đã yêu cầu LUSTER phải liên hệ với cơ quan Công an để làm lại hồ sơ xin cấp số máy, số khung.

Ngày 13/4/2021, SATSCO đã bàn giao lại chiếc xe số 51G-515.91 kèm theo các giấy tờ theo xe (bao gồm cả các hồ sơ giấy tờ liên quan của Công an khi bàn giao lại xe cho SATSCO) cho LUSTER để LUSTER thực hiện thủ tục xin cấp lại số máy, số khung cho xe. Theo nội dung biên bản thì LUSTER chịu hoàn toàn trách nhiệm trong thời gian nhận xe và cam kết hoàn trả lại xe cho SATSCO sau khi hoàn thành thủ tục, thời gian hoàn thành thủ tục là ngày 31/12/2021, nếu xảy ra sự cố về tai nạn, vi phạm pháp luật LUSTER sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm và có nghĩa vụ đền lại cho SATSCO 100% giá trị chiếc xe theo đơn vị giám định độc lập do SATSCO chỉ định.

Tuy nhiên, đến ngày 22/4/2021, ông Hoàng Minh Q - Tổng Giám đốc LUSTER qua tin nhắn zalo với SATSCO đã thông báo hiện chiếc xe đã bị mất và không thể thu hồi trả lại cho SATSCO. Sau đó SATSCO đã nhiều lần liên hệ trực tiếp/gọi điện thoại, nhắn tin cho LUSTER để yêu cầu LUSTER tìm lại chiếc xe và hồ sơ theo xe để bàn giao lại cho SATSCO. SATSCO cũng đã nhiều lần gửi Công văn cho LUSTER về việc đề nghị LUSTER giải quyết dứt điểm việc thanh toán tiền thuê xe còn nợ SATSCO, tuy nhiên LUSTER vẫn cố tình tìm cách né tránh, không chịu hợp tác và làm việc với SATSCO để giải quyết dứt điểm vụ việc.

Nay, SATSCO yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết yêu cầu sau:

  1. Buộc LUSTER phải thanh toán cho SATSCO tiền phí dịch vụ thuê xe của các hợp đồng còn nợ là 77.299.400 đồng.
  2. Buộc LUSTER phải bồi thường thiệt hại cho SATSCO giá trị chiếc xe biển số 51G-515.91 bị mất, với số tiền là 380.157.162 đồng theo chứng thư thẩm định giá số 4641123/CT-TV ngày 09/12/2023 do Công ty Cổ phần Đ lập.
  3. Buộc LUSTER phải bồi thường thiệt hại cho SATSCO tiền thuê xe bị mất của chiếc xe số 51G-515.91 được tính từ ngày 01/01/2022 cho đến ngày 01/05/2024, với với số tiền là 13.200.000 đồng x 28 tháng = 369.600.000 đồng.

Nếu Hội đồng xét xử chấp nhận cho nguyên đơn được bồi thường giá trị xe bị mất thì trường hợp bị đơn tìm được chiếc xe hiệu xe: TOYOTA INNOVA; biển số: 51F-053.66; số khung: RL4XW42G8F9415469; số máy: 1TR7931817 thì nguyên đơn đồng ý cho bị đơn được quyền sở hữu chiếc xe này theo quy định.

* Đối với bị đơn Công ty cổ phần X:

Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự để bị đơn Công ty cổ phần X tham gia giải quyết vụ án nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến trả lời đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không cung cấp tài liệu, chứng cứ về quá trình thuê xe, việc trả tiền thuê xe cho nguyên đơn.

* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định. Bị đơn đã được triệp tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, không chấp hành đúng pháp luật tố tụng.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được Hội đồng xét xử xem xét và thẩm tra công khai tại phiên tòa cho thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần V là có căn cứ chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Từ những tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn Công ty cổ phần V khởi kiện yêu cầu Công ty cổ phần X thanh toán khoản tiền phí dịch vụ thuê xe ô tô và tiền bồi thường thiệt hại phát sinh đối với tài sản cho thuê bị mất. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là “Tranh chấp hợp đồng cho thuê xe ô tô”. Bị đơn Công ty cổ phần X có địa chỉ: Số A, đường V, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo quy định tại các Điều 30, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.

[1.3] Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện việc tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho bị đơn Công ty cổ phần X; đồng thời đã triệu tập hợp lệ đại diện bị đơn Công ty cổ phần X tham gia các buổi làm việc, phiên họp, phiên tòa nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do; không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ; không cung cấp văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy, bị đơn Công ty cổ phần X phải chịu hậu quả của việc không cung cấp chứng cứ theo quy định tại Điều 91, 96 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được xem xét trên cơ cở chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và các tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về yêu cầu trả tiền thuê xe:

Căn cứ các hợp đồng thuê xe ô tô số 1136/2020/HĐ/SATCO ngày 21/8/2020, số 2208/2020/HDDV/HKMN-LUSTER ngày 22/8/2020, số 2208/2020/HDDV/HKMN-LUSTER ngày 05/9/2020, số 1154/2020/HĐ/SATSCO ngày 14/9/2020, số 1149/2020/HD/SATSCO ngày 15/09/2020, số 1448/2020/HD/SATSCO ngày 28/10/2020 và các biên bản bàn giao xe, biên bản thanh lý xe được các bên ký kết thể hiện các hợp đồng được giao kết bằng văn bản do người có thẩm quyền ký và đóng dấu của hai công ty. Như vậy, hợp đồng nêu trên được ký kết hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật nên được pháp luật công nhận và bảo vệ, bắt buộc các bên phải tôn trọng thực hiện theo quy định tại Điều 11 Luật Thương mại. Do đó Công ty cổ phần X có quyền và nghĩa vụ đối với Công ty cổ phần V đối với các giao dịch phát sinh từ các hợp đồng nói trên.

Đối với các hợp đồng thuê xe ô tô nói trên theo trình bày của nguyên đơn và căn cứ vào biên bản thanh lý và hóa đơn giá trị gia tăng kèm theo thể hiện các hợp đồng trên hai bên đã chấm dứt việc cho thuê xe. Đại diện nguyên đơn xác nhận sau khi chấm dứt hợp đồng thì bị đơn đã trả lại xe cho nguyên đơn tuy nhiên bị đơn còn nợ tiền thuê xe. Cụ thể:

STTXe cho thuêTháng – NămThuộc hợp đồng sốTiền thuê xe phát sinh (VNĐ)
151G-795.5701 + 02/20211136/2020/HĐ/SATSCO ngày 21/08/202010.400.000
251H-210.2101+02+03/20212208/2020/HDDV/HKMN-LUSTER ngày 22/08/202058.800.000
351G-515.9101+02+03/20212208/2020/HDDV/HKMN-LUSTER ngày 05/09/202036.000.000
451G-596.1401+02/20211154/2020/HĐ/SATSCO ngày 14/09/202031.800.000
551G-791.7901+02+03/20211149/2020/HD/SATSCO ngày 15/09/202016.900.000
651G-796.0401/20211448/2020/HĐ/SATSCO ngày 28/10/20204.000.000
Tổng cộng157.900.000

Sau khi chấm dứt hợp đồng thuê xe nguyên đơn đã chốt công nợ và xuất hóa đơn giá trị gia tăng cho bị đơn theo Hóa đơn giá trị gia tăng số 0000410 ngày 31/03/2021.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Công ty cổ phần X không có ý kiến cũng như không cung cấp tài liệu, chứng cứ về việc thanh toán tiền thuê xe ô tô theo các hợp đồng cho nguyên đơn. Như vậy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền thuê nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền thuê còn nợ là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 481 Bộ luật Dân sự.

Quá trình các bên ký kết hợp đồng, theo trình bày của đại diện nguyên đơn thì nguyên đơn cũng có ký hợp đồng thuê xe với bị đơn. Số tiền thuê xe nguyên đơn còn nợ bị đơn là 80.600.600 đồng. Bị đơn vắng mặt và không có yêu cầu đối với số tiền này. Tuy nhiên, nguyên đơn đề nghị Tòa án cấn trừ số tiền hai bên còn nợ nhau là sự tự nguyện, không bị ai ép buộc nên Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận.

[2.2] Về yêu cầu bồi thường thiệt hại tiền thuê xe bị mất đối với chiếc xe biển số 51G-515.91 theo hợp đồng cho thuê xe số 2208/2020/HDDV/HKMN-LUSTER ngày 05/9/2020 và Phụ lục hợp đồng cho thuê xe số 2208/2020/HDDV/HKMN- LUSTER/PL.01 ngày 12/9/2020:

Ngày 13/4/2021, SATSCO đã bàn giao lại chiếc xe số 51G-515.91 kèm theo các giấy tờ theo xe (bao gồm cả các hồ sơ giấy tờ liên quan của Công an khi bàn giao lại xe cho SATSCO) cho LUSTER để LUSTER thực hiện thủ tục xin cấp lại số máy, số khung cho xe theo Biên bản bàn giao hồ sơ giấy tờ và xe ký ngày 13/4/2021 giữa hai bên. Biên bản bàn giao được hai bên ký nhận.

Tuy nhiên, đến ngày 22/4/2021, LUSTER thông báo qua điện thoại cho SATSCO về việc xe số 51G-515.91 và các giấy tờ theo xe đã bị mất, sau đó SATSCO đã nhiều lần liên hệ trực tiếp/gọi điện thoại, nhắn tin cho LUSTER để yêu cầu LUSTER tìm lại chiếc xe và hồ sơ theo xe để bàn giao lại cho SATSCO, tuy nhiên LUSTER vẫn cố tình tìm cách né tránh, không chịu hợp tác và làm việc với SATSCO để giải quyết dứt điểm vụ việc. Ông Hoàng Minh Q - Tổng Giám đốc LUSTER qua tin nhắn zalo với SATSCO đã xác nhận hiện chiếc xe đã bị mất và không thể thu hồi trả lại cho SATSCO. Các tin nhắn zalo đã được phía nguyên đơn lập vi bằng làm chứng cứ chứng minh cho việc bị đơn đã làm mất chiếc xe trên.

Theo biên bản bàn giao giữa các bên ngày 13/4/2021 thì thời hạn các bên thỏa thuận bị đơn có nghĩa vụ trả lại xe cho nguyên đơn là ngày 31/12/2021. Việc nguyên đơn xác nhận mất xe đã ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn trong việc cho thuê xe nên nguyên đơn có yêu cầu bồi thường thiệt hại 13.200.000 đồng/tháng (bằng với số tiền nguyên đơn cho bị đơn thuê xe hàng tháng) cho SATSCO tiền thuê xe bị mất của chiếc xe số 51G-515.91 được tính từ ngày 01/01/2022 cho đến ngày 01/05/2024, với với số tiền là 13.200.000 đồng x 28 tháng = 369.600.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.

[2.3] Đối với yêu cầu bồi thường giá trị chiếc xe biển số 51G-515.91 do bị mất.

Như đã phân tích ở trên, việc bị đơn sau khi nhận lại xe đã làm mất xe của nguyên đơn là có căn cứ. Theo nội dung biên bản bàn giao hồ sơ giấy tờ và xe ngày 13/4/2021 quy định: “Người nhận bàn giao chịu toàn bộ trách nhiệm trong thời gian nhận xe và cam kết trả lại xe cho công ty sau khi hoàn thành thủ tục. Nếu xảy ra sự cố về tai nạn, vi phạm pháp luật bên B sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm và có nghĩa vụ đền bù lại cho bên A 100% giá trị của chiếc xe theo đơn vị giám định độc lập...”. Khoản 1 Điều 479 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Bên thuê phải bảo quản tài sản thuê, phải bảo dưỡng và sửa chữa nhỏ; nếu làm mất, hư hỏng thì phải bồi thường”. Như vậy nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường xe bị mất với số tiền là 380.157.162 đồng theo chứng thư thẩm định giá số 4641123/CT-TV ngày 09/12/2023 là có căn cứ chấp nhận.

Do nguyên đơn đã được nhận giá trị xe nên trường hợp bị đơn tìm được chiếc xe hiệu xe: TOYOTA INNOVA, biển số: 51F-053.66, số khung: RL4XW42G8F9415469, số máy: 1TR7931817 thì bị đơn được quyền sở hữu chiếc xe này theo quy định.

[3] Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[4] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[5] Về chi phí thẩm định giá tài sản: Bị đơn phải chịu 8.000.000 đồng và có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn.

[6] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho nguyên đơn theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 30, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Các Điều 357, 468, 472, 473, 474, 479, 481, 482 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 269, 270, 271, 272, 302, 303 Luật Thương mại năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2019;

Căn cứ Điều 11 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần V với bị đơn Công ty Cổ phần X về việc “Tranh chấp hợp đồng cho thuê xe ô tô”.

    Buộc Công ty Cổ phần X phải thanh toán cho Công ty Cổ phần V tổng số tiền 827.056.562 đồng; trong đó: T thuê xe còn nợ là 77.299.400 đồng, tiền bồi thường giá trị chiếc xe ô tô biển số 51G- 515.91 bị mất là 380.157.162 đồng, tiền bồi thường tiền thuê xe do chiếc xe ô tô biển số 51G- 515.91 bị mất là 369.600.000 đồng.

    Trường hợp công ty cổ phần X tìm được chiếc xe ô tô nhãn hiệu: TOYOTA, số loại: INNOVA, dung tích: 1.998 cm³, loại xe: Ô tô con, biển số: 51G-515.91, số khung: RL4JW8EM0H3232705, số máy: 1TRA368281 thì Công ty Cổ phần X được quyền sở hữu chiếc xe và liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm để được sang tên theo quy định sau khi đã thanh toán đầy đủ số tiền trên cho Công ty Cổ phần V.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Bị đơn Công ty cổ phần X phải chịu 36.811.697 đồng. Hoàn trả cho công ty cổ phần V số tiền 18.553.175 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006823 ngày 03 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  3. Về chi phí thẩm định giá tài sản: Bị đơn phải chịu 8.000.000 đồng và có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn.
  4. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - VKSND thành phố Dĩ An (01);
  • - CCTHA DS thành phố Dĩ An (01);
  • - Đương sự (02);
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Viết Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/KDTM-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng cho thuê xe ô tô

  • Số bản án: 24/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng cho thuê xe ô tô
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger