Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 24/2024/HNGĐ-PT

Ngày 22-5-2024

V/v: Ly hôn, nuôi con chung

giữa chị Hoa và anh Đạt

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thành Công

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Tiến Dũng, Ông Bùi Văn Biền

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Lan Anh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Trần Trọng Dần - Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở, Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 18/2023/TLPT-HNGĐ ngày 22-12-2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn”.

Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 281/2023/HNGĐ-ST ngày 15-11-2023 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu - tỉnh Nam Định bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 183/2024/QĐPT-HNGĐ ngày 02-4-2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1993; Đăng ký thường trú: Xóm Chùa, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Nơi ở hiện nay: Xóm F, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định.

- Bị đơn: Anh Tạ Mạnh Đ, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.

Người kháng cáo: Bị đơn anh Tạ Mạnh Đ.

Tại phiên tòa: Chị H, anh Đ có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Tạ Mạnh Đ đăng ký kết hôn ngày 10-10-2013 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn, hai người chung sống hòa thuận hạnh phúc tại nhà bố mẹ đẻ anh Đ đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình hai người không hợp, quan điểm sống khác nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung, anh Đ không quan tâm đến vợ con. Vì vậy, vợ chồng đã nhiều lần xô xát dẫn đến tình cảm ngày càng lạnh nhạt, cuộc sống chung nặng nề, hai bên đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2022 cho đến nay. Nay xác định vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ nên chị H đề nghị được ly hôn với anh Đ.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Tạ Quỳnh N, sinh ngày 26/02/2017 và cháu Tạ Minh P, sinh ngày 31/3/2019. Hiện nay, cháu N do chị H nuôi dưỡng, còn cháu P do anh Đ nuôi dưỡng. Vợ chồng ly hôn, chị H xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N, để cháu P cho anh Đ nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho nhau.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị H xác nhận vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Tạ Mạnh Đ trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Anh Đ xác nhận lời khai của chị H về thời gian hai người kết hôn, quá trình chung sống, vợ chồng mâu thuẫn từ năm 2016 đến nay như chị H trình bày là đúng. Theo anh Đ nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do vợ chồng không có tiếng nói chung, cũng không thông cảm cho nhau, bản thân anh Đ chưa quan tâm nhiều đến vợ con. Tại phiên tòa sơ thẩm anh Đ thừa nhận trước đây vì đặc thù công việc nên thường xuyên không ở nhà vào buổi tối, do vậy, chị H hay ghen tuông vô cớ. Gần đây anh Đ chuyển về làm tại địa phương nhưng do làm ăn thua lỗ nên vợ chồng lại bất đồng về kinh tế và xảy ra xô xát, thỉnh thoảng anh Đ có dùng vũ lực với chị H là sự việc có thật. Tuy anh Đ đã cố gắng rất nhiều, sau khi xảy ra sự việc đã xin lỗi nhưng chị H không đồng ý và làm đơn ly hôn nhưng anh Đ không nhất trí ly hôn vì mong muốn cho các con có một gia đình trọn vẹn tình cảm của cả bố và mẹ.

Về con chung: Anh Đ và chị H có 02 con chung là cháu Tạ Quỳnh N, sinh ngày 26/02/2017 và cháu Tạ Minh P, sinh ngày 31/3/2019. Hiện nay, cháu N do chị H nuôi dưỡng, còn cháu P do anh Đ nuôi dưỡng như chị H trình bày trên là đúng. Nay nếu Toà án giải quyết cho ly hôn, anh Đ xin được nuôi dưỡng trực tiếp cháu P, để chị H được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho nhau.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh Đ xác nhận vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2

Từ nội dung vụ án như trên, tại bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 281/2023/HNGĐ-ST ngày 15-11-2023 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu - tỉnh Nam Định, đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị H và anh Tạ Mạnh Đ.

2. Về con chung: Giao cháu Tạ Quỳnh N, sinh ngày 26/02/2017 cho chị Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Tạ Minh P, sinh ngày 31/3/2019 cho anh Tạ Mạnh Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho nhau và có mọi quyền, nghĩa vụ đối với con chung.

(Hiện nay cháu N đang sống cùng chị H, cháu P đang sống cùng anh Đ).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 27-11-2023, anh Tạ Mạnh Đ có đơn kháng cáo với nội dung: Về quan hệ hôn nhân: Anh Đ không nhất trí lý hôn; Về con chung: Anh Đ đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung là cháu Tạ Quỳnh N, sinh ngày 26/02/2017 và cháu Tạ Minh P, sinh ngày 31/3/2019; Về tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng: Anh Đ đề nghị giải quyết nghĩa vụ chung về tài sản đối với khoản vay số tiền 120 triệu đồng tại Chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh N - Phòng G.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn chị Trần Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn anh Tạ Mạnh Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân theo các quy định pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự, quyền lợi của các đương sự được bảo đảm.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS, không chấp nhận kháng cáo của anh Tạ Mạnh Đ, giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

3

[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, cấp sơ thẩm đã thực hiện đầy đủ các quy định của BLTTDS, không có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, bảo đảm được quyền và nghĩa vụ tố tụng của các đương sự trong vụ án.

Đơn kháng cáo của bị đơn anh Tạ Mạnh Đ được làm trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét nội dung kháng cáo của anh Tạ Mạnh Đ:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Tạ Mạnh Đ tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 10-10-2013 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định nên xác nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, hiện vợ chồng đã sống ly thân, anh Đ nói là còn tình cảm với chị H, còn chị H xác định không còn tình cảm với anh Đ. Anh Đ cũng không đưa ra được biện pháp cải thiện hàn gắn tình cảm vợ chồng, chị H vẫn giữ quan điểm không muốn vợ chồng đoàn tụ mà nhất quyết xin ly hôn anh Đ. Như vậy, cuộc hôn nhân của anh Đ và chị H tình cảm không còn xuất phát từ hai phía, cả hai không còn tiếng nói chung trong cuộc sống vợ chồng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy Tòa án sơ thẩm đã xử ly hôn giữa chị Trần Thị H và anh Tạ Mạnh Đ là có căn cứ pháp lý, phù hợp với các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

- Về quyền nuôi con chung sau khi ly hôn: Chị H và anh Đ có 02 con chung là cháu Tạ Quỳnh N, sinh ngày 26/02/2017 và cháu Tạ Minh P, sinh ngày 31/3/2019. Hiện nay, cháu N do chị H nuôi dưỡng, còn cháu P do anh Đ nuôi dưỡng.

Nhận thấy, hiện nay cả 02 con chung của chị H - anh Đ đều chưa thành niên, nên rất cần sự quan tâm chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục thường xuyên của cha mẹ để cho các con được phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ và tinh thần; Căn cứ vào điều kiện công việc, môi trường nơi ở hiện tại, thấy cả chị H và anh Đ đều có công việc và có thu nhập ổn định, đều có nguyện vọng và đều đảm bảo được việc nuôi dưỡng chăm sóc con chung. Căn cứ vào độ tuổi và tâm sinh lý phát triển của các con chưa thành niên, thấy cấp sơ thẩm đã xét xử giao cho chị Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Tạ Quỳnh N, sinh ngày 26/02/2017; giao anh Tạ Mạnh Đ trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Tạ Minh P, sinh ngày 31/3/2019, là có căn cứ pháp lý - phù hợp thực tế, bảo đảm quyền lợi chính đáng của con chưa thành niên theo quy định của Luật trẻ em và Luật hôn nhân và gia đình.

- Về yêu cầu xem xét công nợ chung của vợ chồng khi ly hôn: Nhận thấy quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm, anh Tạ Mạnh Đ và chị Trần Thị H đều không có yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết, vì vậy cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết. Tại cấp phúc thẩm, anh Đ lại đề nghị xem xét giải quyết tài sản chung, công nợ chung của vợ chồng; theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét yêu cầu này của anh Đ.

Kháng cáo của anh Tạ Mạnh Đ không có căn cứ pháp lý nên không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của anh Tạ Mạnh Đ không được chấp nhận nên anh Đ phải nộp án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo - kháng nghị, Hội đồng phúc thẩm không xem xét.

4

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

2. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Tạ Mạnh Đ; Giữ nguyên các quyết định của bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 281/2023/HNGĐ-ST ngày 15-11-2023 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu - tỉnh Nam Định.

3. Án phí dân sự phúc thẩm: Anh Tạ Mạnh Đ phải nộp 300.000 đồng, được đối trừ với số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm anh Đ đã nộp tại biên lai số 0002959 ngày 04-12-2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; anh Tạ Mạnh Đ đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo - kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- VKSND tỉnh Nam Định;

- TAND huyện Hải Hậu;

- Chi cục THADS huyện Hải Hậu;

- Các đương sự;

- Lưu HS, tòa DS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Công

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/HNGĐ-PT ngày 22/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 24/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger