|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 24/2025/HS-ST Ngày 09 - 6 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Định và ông Phạm Văn Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Duẩn - Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2025/TLSI-HS ngày 29 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày 01/4/1990, tại phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Khu phố E, phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Cán bộ Trung tâm y tế huyện Q; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; là Đảng viên D2; con ông Nguyễn Xuân T và bà Nguyễn Thị L; có chồng là Lê Quang S và 02 con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/02/2025 cho đến nay. Có mặt.
- Bị hại:
1. Bà Phạm Thị T1 (đã chết)
Người đại diện hợp pháp của bà Phạm Thị T1: Chị Võ Thị Thu H; địa chỉ: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
2. Ông Võ Ngọc Đ; địa chỉ: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
- Người làm chứng:
+ Ông Dương Phương D1; địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
+ Ông Nguyễn Thanh S1; địa chỉ: Khu phố A, phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 35 phút, ngày 27/11/2024, Nguyễn Thị Thùy D điều khiển xe ô tô BKS 73A - 276.26 đi từ Trung tâm y tế huyện Q, tỉnh Quảng Bình về nhà tại khu phố E, phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình trên đường Q, theo hướng Bắc - N. Cùng thời điểm trên, ông Võ Ngọc Đ điều khiển xe mô tô BKS 73N8 - 2938, chở theo vợ là bà Phạm Thị T1 di chuyển trên làn đường dành cho xe cơ giới tiếp giáp với làn đường dành cho xe thô sơ, Quốc lộ A, theo hướng Bắc- Nam. Khi đi đến K + 945 Quốc lộ A thuộc địa phận thôn T, xã Q, huyện Q, do không chú ý quan sát, D không phát hiện được xe mô tô BKS 73N8 - 2938 do ông Võ Ngọc Đ điều khiển di chuyển cùng chiều phía trước, nên đã điều khiển xe ô tô BKS 73A - 276.26 đâm va vào xe mô tô BKS 73N8 - 2938 do ông Đ điều khiển.
Hậu quả: Bà Phạm Thị T1 tử vong tại chỗ; ông Võ Ngọc Đ bị thương, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ3 rồi chuyển đến cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện T2 từ ngày 28/11/2024 đến ngày 23/12/2024; hai phương tiện bị hư hỏng.
Kết quả khám nghiệm hiện trường: Căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trường xác định vụ tai nạn giao thông xảy ra tại Km 614 + 945 Quốc lộ A thuộc địa phận thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Điểm va chạm trên đường của hai phương tiện là trên làn đường dành cho xe cơ giới tiếp giáp với làn đường dành cho xe thô sơ (làn đường dành cho xe di chuyển theo chiều B).
Ngày 17/12/2024, Phòng K Công an tỉnh Q có Kết luận giám định số 682/KL-PY, xác định nguyên nhân chết của bà Phạm Thị T1 là: Chấn thương sọ não.
Ngày 28/12/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q ra Kết luận định giá tài sản số: 33/KL-HĐĐGTS, kết luận như sau: Thiệt hại tài sản xe ô tô BKS 73A - 276.26 là: 51.810.000 đồng (Năm mươi mốt triệu tám trăm mười ngàn đồng); Thiệt hại tài sản xe mô tô BKS 73N8 - 2938 là: 656.000 đồng (Sáu trăm năm mươi sáu ngàn đồng).
Ngày 31/3/2025, Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh Q có Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 39/KLTTCT-TTGĐYK-PY, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Võ Ngọc Đ tại thời điểm giám định là: 59% (năm mươi chín phần trăm).
Về vật chứng của vụ án: Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã tạm giữ vật chứng liên quan để điều tra và đã tiến hành xử lý theo quy định:
- Trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp Nguyễn Thị Thùy D 01 xe ô tô BKS 73A - 276.26, nhãn hiệu: MAZDA, số loại: MAZDA 2, số máy: P520839135, số khung: MM7DJ2HAAPW832054, màu sơn: Đỏ, đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn giao thông; 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô, số: 73 000539, do Công an thị xã B cấp cho xe ô tô BKS 73A - 276.26, ngày cấp: 17/11/2022; 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, số: DA 2525173, do Trung tâm đăng kiểm xe cơ giới Công ty TNHH T3 cấp cho xe ô tô BKS 73A - 276.26, ngày cấp: 27/11/2022, có hiệu lực đến hết ngày: 16/5/2025; 01 Giấy chứng nhận điện tử bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô, số: 29247128, do Công ty B - Tổng Công ty B1 cấp cho xe ô tô BKS 73A - 276.26, ngày cấp 22/10/2024, thời hạn bảo hiểm từ 16:00 ngày 22 tháng 10 năm 2024 đến 16:00 ngày 22 tháng 10 năm 2025.
Trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Võ Ngọc Đ: 01 xe mô tô BKS 73N8 - 2938, nhãn hiệu: YAMAHA, số loại: Jupiter, đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn giao thông.
Đối với 01 Giấy phép lái xe, hạng B2, số [...], do Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp cho chị Nguyễn Thị Thùy D, ngày cấp: 05/6/2019, có giá trị đến: 05/6/2029 được chuyển xử lý theo thẩm quyền.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 03/02/2025 Nguyễn Thị Thùy D và đại diện gia đình bà Phạm Thị T1 và ông Võ Ngọc Đ đã tự thỏa thuận bồi thường dân sự đầy đủ toàn bộ các khoản chi phí mai táng, bồi thường tổn thất tinh thần, các khoản chi phí hợp lý khác và tiền cấp dưỡng cho con gái bà T1 cháu Võ Thị H1, sinh ngày 12/12/2008 cho đến lúc 18 tuổi với tổng số tiền là 200.000.000 đồng; bồi thường chi phí điều trị, thuốc men, đi lại, tiền công chăm sóc, tiền mất sức lao động, tổn thất tinh thần và tiền sửa chữa xe mô tô BKS 73N8 – 2938 và các khoản chi phí khác cho ông Võ Ngọc Đ số tiền 130.000.000 đồng. Phía đại diện gia đình bị hại bà Phạm Thị T1 và ông Võ Ngọc Đ đã nhận đủ số tiền và không có yêu cầu gì thêm về bồi thường thiệt hại.
Tại bản Cáo trạng số 16/CT-VKSQT ngày 29/4/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thùy D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo toàn bộ nội dung Cáo trạng, có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s, v khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thùy D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy D số tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng; Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét; Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Thùy D 01 Giấy phép lái xe, hạng B2, số [...], do Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp cho chị Nguyễn Thị Thùy D, ngày sinh: 01/4/1990, nơi cư trú: phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình, ngày cấp: 05/6/2019, có giá trị đến: 05/6/2029; Về án phí: buộc bị cáo Nguyễn Thị Thùy D phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và thống nhất với tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đã truy tố, kết tội bị cáo. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thùy D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như Cáo trạng truy tố và luận tội của Kiểm sát viên. Ngày 27 tháng 11 năm 2024, Nguyễn Thị Thùy D điều khiển xe ô tô BKS 73A - 276.26 tham gia giao thông, có Giấy phép lái xe hạng B2 phù hợp với loại phương tiện điều khiển. Quá trình điều khiển phương tiện tham gia giao thông không chú ý quan sát, không phát hiện kịp thời xe mô tô BKS 73N8 - 2938 do ông Võ Ngọc Đ điều khiển di chuyển cùng chiều phía trước để chủ động phòng tránh, không giữ khoảng cách an toàn với xe chạy phía trước cùng làn đường, dẫn đến
không giảm tốc độ để dừng lại an toàn khi có chướng ngại vật phía trước, điều khiển xe ô tô BKS 73A - 276.26 đâm va vào xe mô tô BKS 73N8 - 2938 do ông Đ điều khiển, gây ra vụ tai nạn giao thông hậu quả làm 01 người chết và 01 người bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể 59%, thiệt hại tài sản: 52.466.000 đồng.
Hành vi trên của Nguyễn Thị Thùy D vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ; Điều 12 Luật giao thông đường bộ năm 2008 (nay được quy định tại khoản 1; điểm b khoản 3 Điều 12 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ).
Như vậy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa và trong quá trình điều tra, truy tố là hoàn toàn phù hợp và thống nhất với nhau và người tham gia tố tụng khác; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm, vì vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận, bị cáo Nguyễn Thị Thùy D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm, trực tiếp xâm phạm đến trật tự, an toàn công cộng, xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo đáng lẽ ra khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông phải tuân thủ pháp luật, tuân thủ quy tắc giao thông đường bộ nhưng do có ý thức chủ quan, thiếu quan sát, không giữ khoảng cách nên đã gây ra tai nạn với hậu quả nghiêm trọng nêu trên. Nguyên nhân vụ tai nạn lỗi hoàn toàn do bị cáo gây ra. Vì vậy, cần thiết phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo không có tình tiết tăng tặng trách nhiệm hình sự.
[5] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy rằng:
Bị cáo có nhân thân tốt. Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân, có thành tích xuất sắc trong công tác đã được sở Y tặng danh hiệu chiến sỹ thi đua cơ sở trong 2 năm 2022, năm 2023 và giấy khen. Ngoài ra, bị cáo có nhiều thành tích trong phòng chống dịch C -19. Bị hại ông Võ Ngọc Đ cũng đã đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo D. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s, v khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, được áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
[6] Xét quan điểm đề xuất của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[7] Xét lỗi của bị cáo gây ra là lỗi vô ý, bị cáo có nhiều năm tham gia làm công tác Đảng và công tác khác tại Trung tâm Y tế huyện Q, có nhiều thành tích. Xét nguyện vọng của bị cáo D mong muốn có cơ hội được tiếp tục đứng trong hàng ngũ của Đảng. Vì vậy, áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo D là cũng đủ nghiêm nhằm răn đe và giáo dục bị cáo có ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật.
[8] Về trách nhiệm dân sự:
Ngày 03/02/2025, Nguyễn Thị Thùy D và đại diện gia đình bà Phạm Thị T1 và ông Võ Ngọc Đ đã tự thỏa thuận bồi thường dân sự các khoản với tổng số tiền 330.000.000 đồng. Bị cáo đã tự nguyện thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bồi thường. Đến tại phiên tòa không ai có yêu cầu, đề nghị gì thêm về phần trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Thùy D 01 Giấy phép lái xe, hạng B2, số [...], do Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp cho chị Nguyễn Thị Thùy D, ngày sinh 01/4/1990, nơi cư trú: phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình, ngày cấp: 05/6/2019, có giá trị đến: 05/6/2029.
Đối với các vật chứng cơ quan điều tra Công an huyện Q thu giữ và đã trả lại cho chủ sỡ hữu, tại phiên tòa không ai có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thùy D phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s, v khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thùy D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
-
Về hình phạt:
- Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy D số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng). Thời gian chấp hành hình phạt tiền kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
-
Về xử lý vật chứng:
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Thùy D 01 Giấy phép lái xe, hạng B2, số [...], do Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp cho chị Nguyễn Thị Thùy D, ngày sinh: 01/4/1990, nơi cư trú: phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình, ngày cấp: 05/6/2019, có giá trị đến: 05/6/2029.
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thùy D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách nhà nước.
Báo cho bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Kim Dung |
Bản án số 24/2025/HS-ST ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 24/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGuyễn Thị Thùy Dương
