TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST Ngày: 27-5-2025 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Công Định.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Ngọc Côn
Ông Trần Đăng Thanh
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thành Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 492/2024/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”. The Quyết định đưa vụ án ra xét xử số Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2025, và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2025/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm, giữa
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Ánh N, sinh năm 1999; (vắng mặt)
ĐKHKTT: Thôn N, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
Chỗ ở hiện tại: Thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn: Anh Vương Văn B, sinh năm 1996; (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn N, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Hoàng Thị Ánh N trình bày:
Chị và anh Vương Văn B đăng ký kết hôn ngày 10/7/2020 tại UBND xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn cả hai có được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn chị về nhà anh B làm dâu và sinh sống cùng gia đình anh B tại thôn N, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Vợ chồng chị chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh B ham chơi không lo làm ăn. Chị khuyên bảo nhiều lần nhưng anh B không thay đổi, dẫn đến vợ chồng không có chung quan điểm sống. Hai bên gia đình đã cố hàn gắn cho chị và anh B nhiều lần nhưng không thành. Chị và anh B đã ly thân từ tháng 02/2024 đến nay, hai bên không còn liên quan gì với nhau về tình cảm và kinh tế. Chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh B không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vương Văn B.
Về con chung: Chị và anh Vương Văn B có 2 con chung là Vương Bảo N1 sinh ngày 03/3/2021 và Vương Quốc B1 sinh ngày 14/4/2022, hiện con chung đang ở với chị, phát triển khỏe mạnh, bình thường. Ly hôn chị đề nghị được nuôi dưỡng cả 02 con chung. Cấp dưỡng nuôi con chị không đề nghị Tòa án giải quyết
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Do công việc bận và một số lý do khách quan không thể tham gia phiên tòa xét xử vụ án, chị xin được vắng mặt tại phiên tòa
Bị đơn anh Vương Văn B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ và niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh Vương Văn B không cung cấp văn bản ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Hoàng Thị Ánh N, không tham dự phiên họp, phiên hòa giải nên Tòa án không thu thập lời khai, ý kiến của anh Vương Văn B được.
Tại biên bản xác minh Tổ phó tổ an ninh khu vực thôn N, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang cung cấp nội dung: Chị N và anh B kết hôn năm 2020. Sau khi kết hôn chị N và anh B cùng nhau chung sống và đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn N, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vợ chồng chị N và anh B có 02 con chung là Vương Bảo N1 sinh ngày 03/3/2021 và Vương Quốc B1 sinh ngày 14/4/2022. Về thời gian mâu thuẫn và nguyên nhân mâu thuẫn như chị N trình bày địa phương xác định là đúng. Hiện anh B đi làm ăn, chỉ cuối tuần mới trở về địa phương, địa phương không rõ anh B đi đâu, làm gì.
Tại biên bản lấy lời khai bà Hoàng Thị C là mẹ đẻ của anh Vương Văn B xác nhận về thời điểm kết hôn, con chung, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N, anh B như chị N trình bày là đúng. Hai bên gia đình cũng đã hòa giải nhiều lần nhưng chị N, anh B không ở cùng nhau được. Về việc chị N đề nghị ly hôn với anh B bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Hiện nay anh B đi làm ăn rất ít khi về nhà, gia đình bà không biêt anh B đi đâu, làm gì vì anh B không nói. Gia đình đã thông báo cho anh B đã biết việc chị N khởi kiện ly hôn, theo như bà biết, anh B đồng ý ly hôn.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự: Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q, xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị Ánh N được ly hôn với anh Vương Văn B.
- - Về con chung: Giao cho chị Hoàng Thị Ánh N nuôi dưỡng Vương Bảo N1 sinh ngày 03/3/2021 và Vương Quốc B1 sinh ngày 14/4/2022 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định pháp luật. Sau khi ly hôn anh Vương Văn B có quyền thăm nom con, không ai được cản trở anh B thực hiện quyền này của mình. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất giải quyết án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Hoàng Thị Ánh N khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết ly hôn với anh Vương Văn B. Hiện nay anh Vương Văn B có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị Hoàng Thị Ánh N đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Vương Văn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt Chị N và anh B theo thủ tục chung.
[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy:
[2.1].Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Ánh N và anh Vương Văn B đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang ngày 10/7/2020. Trước khi kết hôn chị N, anh B được tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn. Do đó xác định hôn nhân giữa chị N với anh B hôn nhân hợp pháp.
Theo chị N trình bày chị N, anh B chung sống hòa thuận hạnh phúc nhưng đến năm 2022 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh B chơi bời, không chăm lo cho gia đình dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Chị N và anh B đã ly thân từ năm tháng 02/2024 đến nay. Phía chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị N ly hôn anh B.
Phía anh B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng anh B không có ý kiến về việc chị N ly hôn.
HĐXX thấy: Qua xác minh tại địa phương và mẹ đẻ của anh B thì thấy chị N và anh B trong quá trình chung sống có mâu thuẫn, hiện vợ chồng chị N, anh B2 đã ly thân. Thực tế chị N, anh B không còn quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau, không sống chung cùng nhau là không đảm bảo theo Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, có căn cứ xác định hôn nhân giữa chị N và anh B đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị N, xử cho chị Hoàng Thị Ánh N được ly hôn anh Vương Văn B.
[2.2] Về con chung: Chị Hoàng Thị Ánh N và anh Vương Văn B có 02 con chung là Vương Bảo N1 sinh ngày 03/3/2021 và Vương Quốc B1 sinh ngày 14/4/2022. Ly hôn chị N đề nghị được nuôi dưỡng cả 02 con chung. Quá trình giải quyết vụ án anh B không có ý kiến về con chung khi ly hôn. Hiện cả cháu N1 và cháu B1 đang ở cùng chị N. Xét yêu cầu giải quyết về con chung của chị N, HĐXX thấy: Yêu cầu giải quyết về nuôi con chung của chị N là yêu cầu chính đáng. Hiện con chung của chị N, anh B đều còn nhỏ, rất cần sự chăm sóc của người mẹ, cả 2 đang ở với chị N, phát triển khỏe mạnh, bình thường. Hiện anh B đi làm không có mặt tại địa phương. Để tránh làm xáo trộn cuộc sống, ảnh hưởng đến tâm sinh lý của cháu N1 và cháu B1, nên giao cả 02 con chung cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng như yêu cầu của chị N là phù hợp với khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Sau ly hôn anh B có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở anh B thực hiện quyền này của mình. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Hoàng Thị Ánh N không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Hoàng Thị Ánh N không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3]. Về án phí: Chị Hoàng Thị Ánh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và tiểu mục 1.1 mục 1 phần II danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự chị Hoàng Thị Ánh N, anh Vương Văn B3 có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 28, điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị Ánh N được ly hôn với anh Vương Văn B.
- Về con chung: Giao cho chị Hoàng Thị Ánh N nuôi dưỡng Vương Bảo N1 sinh ngày 03/3/2021 và Vương Quốc B1 sinh ngày 14/4/2022 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định pháp luật. Sau khi ly hôn chị anh Vương Văn B có quyền thăm nom con, không ai được cản trở. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Hoàng Thị Ánh N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí Chị N đã nộp theo biên lai thu số 0002791 ngày 19 tháng 12 năm 2024, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Về kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đặng Công Định |
Bản án số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 27/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 24/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử cho chị N được ly hôn anh B
