Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LÀO CAI

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST

Ngày 26/5/2025

V/v: “Kiện ly hôn,

tranh chấp nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lanh

Các hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Vũ Thị Hòa;
  2. Ông Hoàng Văn Ngân.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Thị Lan - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai.

Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 69/2025/TLST - HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2025 về việc kiện “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Phạm Văn Q - Sinh năm 1984

Nơi đăng ký thường trú và nơi ở: Số nhà C đường M, tổ E, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”

2. Bị đơn: Chị Lê Thị D - Sinh năm 1992

Nơi đăng ký thường trú: Thôn V, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; Nơi ở: Số nhà A đường H, tổ B phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Hiện nay đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh L “Vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Phạm Văn Q trình bày: Anh Phạm Văn Q và chị Lê Thị D tự nguyện tìm hiểu yêu thương và kết hôn với nhau ngày ngày 07 tháng 12 năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Sau khi kết hôn vợ, chồng có chung sống với nhau hạnh phúc trong một khoảng thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn do vợ chồng tính cách không hợp vì vậy giữa hai vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, cuộc sống chung không có hạnh phúc ngày càng căng thẳng, mệt mỏi. Từ năm 2021 vợ chồng đã sống ly thân nhau, chị D bỏ ra ngoài thuê trọ sinh sống không ai còn quan tâm đến ai. Hiện nay do chị D phạm tội về ma túy bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh L. Vì vậy, anh Phạm Văn Q đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Lê Thị D.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Phạm Lê Trung H, sinh ngày 03/12/2018. Khi ly hôn anh Q đề nghị Toà án giải quyết cho anh được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc cháu H đến tuổi trưởng thành. Không yêu cầu chị D phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Anh Phạm Văn Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 01/4/2025, bị đơn chị Lê Thị D khai: Chị Lê Thị D và anh Phạm Văn Q kết hôn với nhau năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hanh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung. Đến nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh Q đề nghị Toà án giải quyết ly hôn, chị D nhất trí ly hôn.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Phạm Lê Trung H, sinh ngày 03/12/2018 khi ly hôn chị Lê Thị D đề nghị Tòa án giải quyết cho anh Q được nuôi dưỡng cháu H, chị D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị Lê Thị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về tố tụng, thẩm quyền giải quyết vụ án:
    1. [1.1] Về tố tụng: Tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự theo quy định tại điều khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
    2. [1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp cần giải quyết trong vụ án là tranh chấp về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
  2. [2] Xét yêu cầu khởi kiện:
    1. [2.1] Về hôn nhân: Anh Phạm Văn Q và chị Lê Thị D tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 07//12/2017 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, cuộc sống chung không hạnh phúc. Từ năm 2021 hai vợ chồng đã sống ly thân nhau. Bản án 56/2025/HSST ngày 18/4/2025 chị D bị Toà án nhân dân thành phố Lào Cai xử phạt 02 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma tuý. Đến nay anh Q xin ly hôn, chị D đồng ý ly hôn. Như vậy tình cảm vợ chồng giữa anh Q và chị D đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Phạm Văn Q với chị Lê Thị D.
    2. [2.2] Về con chung: Xét việc giao nuôi con thì thấy rằng anh Phạm Văn Q đề nghị giải quyết cho anh được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Phạm Lê Trung H, sinh ngày 03/12/2018 đến tuổi tưởng thành. Chị Lê Thị D cũng nhất trí để anh Q được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai cháu. Căn cứ điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Phạm Lê Trung H cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật. Chị Lê Thị D không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Q
    3. [2.3] Về tài sản chung: Anh Phạm Văn Q và chị Lê Thị D không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. [3] Về án phí: Anh Phạm Văn Q phải chịu tiền án phí ly hôn.

Từ những nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn Q:

  1. 1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Phạm Văn Q và chị Lê Thị D. Quan hệ hôn nhân của anh Phạm Văn Q và chị Lê Thị D được chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
  2. 2. Về con chung: Giao cháu Phạm Lê Trung H, sinh ngày 03/12/2018 cho anh Phạm Văn Q trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi. Chị Lê Thị D không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh Q. Chị D được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.
  3. 3. Về án phí: Anh Phạm Văn Q phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn. Xác nhận anh Q đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: [...] ngày 26 tháng 3 năm 2025 của Công ty cổ phần T và Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 155 ngày 26 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai được trừ vào tiền án phí phải nộp.
  4. 4. Quyền kháng cáo: Anh Phạm Văn Q, chị Lê Thị D được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh; TP
  • - Các đương sự;
  • - THADS;
  • - UBND phường Duyên Hải,
  • thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai
  • - Lưu.

TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Tuyết Lanh

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI về kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 24/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ kiện "Ly hôn" giữa anh Phạm Văn Q và chị Lê Thị D
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger