|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST Ngày: 26-5-2025. V/v “tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Dương Phú Sang.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trần Hữu Nghĩa;
- Bà Nguyễn Thị Tám.
Thư ký phiên tòa: Ông Tống Hoàng Tuấn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phan Hoàng Nam – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 78/2025/TLST-HNGĐ ngày 20/3/2025 về “tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QÐST-HNGĐ ngày 07/5/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1980, nơi cư trú: ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn: Anh Trương Văn S, sinh năm 1975, nơi cư trú: ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Chị T, anh S vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 20 tháng 3 năm 2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, chị Nguyễn Ngọc T trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Trương Văn S tự nguyện chung sống vợ chồng từ năm 1998 và có đăng ký kết hôn. Cuộc sống vợ chồng từ khi cưới nhau, ban đầu hạnh phúc, chỉ đến năm 2020, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến việc sống ly thân cho đến nay. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp tính, bất đồng quan điểm khi giải quyết các vấn đề phát sinh trong gia đình. Do tình cảm vợ chồng không hạnh phúc, mâu thuẫn đã trầm trọng và chưa khắc phục được nên chị khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Trương Văn S.
- Về con chung: Chị và anh Trương Văn S chung sống vợ chồng có 03 con chung gồm cháu Trương Thị Quỳnh N, sinh ngày 30/10/1999, cháu Trương Thị Như Ý, sinh ngày 19/4/2002 và cháu Trương Thị Ý T1, sinh ngày 05/01/2006, hiện nay các con chung đã thành niên nên khi ly hôn chị không có yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Trương Văn S trình bày:
- Về hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Ngọc T tự nguyện chung sống vợ chồng vào năm 1998, có đăng ký kết hôn. Cuộc sống vợ chồng giữa anh và chị Nguyễn Ngọc T khi cưới nhau thời gian đầu cũng hạnh phúc, chỉ từ đầu năm 2020 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến sống ly thân cho đến nay. Do xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể khắc phục nên anh đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Ngọc T.
- Về con chung: Anh và chị Nguyễn Ngọc T chung sống vợ chồng có 03 con chung gồm cháu Trương Thị Quỳnh N, sinh ngày 30/10/1999, cháu Trương Thị Như Ý, sinh ngày 19/4/2002 và cháu Trương Thị Ý T1, sinh ngày 05/01/2006, hiện nay các con chung đã thành niên nên khi ly hôn, anh không có yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Do chị T, anh S vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát trình bày:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thủ tục thụ lý, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã đảm bảo tuân thủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng n sự.
Về tố tụng: Do chị Nguyễn Ngọc T, anh Trương Văn S là nguyên đơn, bị đơn trong vụ án đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào Điều 228 Bộ Luật tố tụng Dân sự 2015, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Nguyễn Ngọc T và anh Trương Văn S.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc T và anh Trương Văn S thuận tình ly hôn.
Về con chung: Do các con chung đã thành niên nên chị Nguyễn Ngọc T và anh Trương Văn S không có yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: chị Nguyễn Ngọc T và anh Trương Văn S không có yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết.
Về án phí: các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của Pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Do chị Nguyễn Ngọc T, anh Trương Văn S là nguyên đơn, bị đơn trong vụ án đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào Điều 228 Bộ Luật tố tụng Dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Nguyễn Ngọc T và anh Trương Văn S.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc T và anh Trương Văn S tự nguyện chung sống vào năm 1998, có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị T và anh S, Hội đồng xét xử thấy rằng: Chị T yêu cầu ly hôn, anh S đồng ý ly hôn, cả hai anh chị đều thừa nhận cuộc sống vợ chồng có phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Điều này chứng tỏ, cuộc sống hôn nhân của chị T và anh S không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể khắc phục được, dẫn đến mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình ghi nhận chị Nguyễn Ngọc T và anh Trương Văn S thuận tình ly hôn.
[2.2] Về con chung: chị T và anh S đều thừa nhận, vợ chồng chung sống có 03 con chung gồm cháu Trương Thị Quỳnh N, sinh ngày 30/10/1999, cháu Trương Thị Như Ý, sinh ngày 19/4/2002 và cháu Trương Thị Ý T1, sinh ngày 05/01/2006. Do các con chung đã trên 18 tuổi, chị T và anh S không có yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung khi chị T và anh S ly hôn nên hội đồng xét xử ghi nhận.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Do trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Ngọc T và anh Trương Văn S không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[3] Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị T và anh S mỗi người phải chịu 150.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[4] Ý kiến của Kiểm sát viên về các vấn đề liên quan đến vụ án là có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Điều 228, 146, 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc T và anh Trương Văn S thuận tình ly hôn.
- Về con chung: Do các con chung của chị Nguyễn Ngọc T, anh Trương Văn S gồm cháu Trương Thị Quỳnh N, sinh ngày 30/10/1999, cháu Trương Thị Như Ý, sinh ngày 19/4/2002 và cháu Trương Thị Ý T1, sinh ngày 05/01/2006 đã trên 18 tuổi nên Tòa án không đặt ra giải quyết.
- Về tài sản chung; nợ chung: Chị Nguyễn Ngọc T và anh Trương Văn S không có yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: chị Nguyễn Ngọc T phải chịu 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị T đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002170 ngày 20 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Chị Nguyễn Ngọc T được nhận lại số tiền chênh lệch là 150.000 đồng.
Anh Trương Văn S phải chịu 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Báo cho chị Nguyễn Ngọc T và anh Trương Văn S biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Phú Sang |
Bản án số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 24/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc T tranh chấp ly hôn với Trương Văn S