Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:24/2025/DS-ST

Ngày 09/4/2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Mạnh Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Tư.
  2. Bà Hoàng Thị Hồng.

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lương Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dương Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 09/4/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 152/TLST-DS ngày 29/10/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-DS ngày 19/02/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2025/QÐST-DS ngày 19/3/2025 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Dương Thị Hường, sinh năm 1975.
  • Địa chỉ: Số 87, đường Nguyễn Thị Minh Khai, phường Xương Giang, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

    Đại diện theo ủy quyền: Bà Ngô Thị Thu và bà Ong Thị Thanh- Luật sư, Văn phòng luật sự Vũ Anh Hùng – Đoàn luật sư tỉnh Bắc Giang.

    (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

  • Bị đơn: Chị Trần Thị Lương, sinh năm 1987
  • Địa chỉ: Số 15, đường Lê Lai, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt)

  • Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
    1. Anh Trần Văn Huấn, sinh năm 1985
    2. Địa chỉ: Số 15, đường Lê Lai, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt).

    3. Chị Trần Thùy Trang, sinh năm 1995.
    4. Chị Trần Thùy Dương, sinh năm 2005.
    5. Chị Trần Phương Mai, sinh ngày 06/8/2008
    6. Địa chỉ: Nhà 87, đường Nguyễn Thị Minh Khai, phường Xương Giang, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện theo ủy quyền của chị Trang, chị Dương, chị Mai: Chị Dương Thị Hường, sinh năm 1975. Địa chỉ: Số 87, đường Nguyễn Thị Minh Khai, phường Xương Giang, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang (Có đơn đề nghị vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là chị Dương Thị Hường và đại diện của nguyên đơn trình bày:

  • Vợ chồng chị Hường và vợ chồng chị Lương, anh Huấn có mối quan hệ quen biết xã hội từ trước đó nên chị Lương hỏi vay tiền để lo việc gia đình, chị đồng ý cho chị Lương vay 350.000.000 đồng, thời hạn vay là 01 tháng và chị Lương tự viết vào giấy vay tiền 18/01/2023 với nội dung “Tôi hẹn ngày 18/02/2023 sẽ thanh toán đầy đủ số tiền trên. Nếu sai hẹn, chị Hường được quyền thu, bắt, giữ các tài sản của tôi quy ra số tiền mà tôi vay. Hoặc báo cơ quan có quyền giải quyết mà tôi không được kiện cáo gì. Tôi cam kết bất cứ lúc nào chị Hường cần lấy lại số tiền trên tôi sẽ trả đầy đủ. Nếu sai tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật”. Hai bên thỏa thuận không lãi suất. Ngay sau khi ký giấy vay tiền xong chị Hường đã giao đủ 350.000.000 đồng tiền vay cho chị Lương. Tuy nhiên, đã quá thời hạn trả nhưng chị Lương vẫn chưa trả tiền vay, chị Hường liên hệ điện thoại nhiều lần cho chị Lương thì chị Lương đều khất lần, hẹn trả sau và vẫn không có bất cứ động thái nào để trả khoản nợ trên, mặc dù chị Hường đã đề nghị nhiều lần qua việc gọi điện và gặp trực tiếp; việc vay tiền này anh Huấn, chồng chị Lương biết. Do đó chị Hường xác định đây là khoản nợ chung của cả chị Lương, anh Huấn, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết buộc chị Lương, anh Huấn phải trả tiền nợ gốc là 350.000.000 đồng.
  • Về tiền lãi chậm trả: Do trong Giấy vay tiền chị Hường và chị Lương không thỏa thuận lãi. Nhưng tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả nên chị yêu cầu chị Lương, anh Huấn phải trả kể từ ngày chậm trả cho đến ngày xét xử sơ thẩm, tạm tính kể từ thời điểm chậm trả ( từ ngày 19/02/2023) đến ngày khởi kiện là 48.136.986 đồng.

Ngoài ra, chị không yêu cầu giải quyết vấn đề gì khác trong vụ án này.

Ngày 10/02/2025, chị Hường thay đổi yêu cầu, chỉ yêu cầu buộc chị Lương phải có nghĩa vụ trả tiền vay và tiền lãi, không yêu cầu anh Huấn phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ với chị Lương.

  • Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là chị Trần Thị Lương và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Trần Văn Huấn được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng đều không đến Tòa án làm việc và không có quan điểm gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Trần Nam Phương- là chồng của nguyên đơn chết, Tòa án đã đưa các con của anh Phương và chị Hường là chị Trần Thùy Trang, sinh năm 1995, chị Trần Thùy Dương, sinh năm 2005, chị Trần Phường Mai, sinh ngày 06/8/2008 cùng chị Hường kế thừa quyền và nghĩa vụ của anh Phương tham gia tố tụng trong vụ án.

Chị Trang, chị Dương và chị Mai đều đồng ý với khởi kiện của chị Hường và đều ủy quyền cho chị Hường đại diện tham gia tố tụng.

  • Tại phiên tòa:
  • - Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị xử vắng mặt và có đơn đề nghị giữ nguyên yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ trả tiền vay 350.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định pháp luật tính từ ngày đến hạn trả nợ đến ngày xét xử sơ thẩm.

    Hội đồng xét xử công bố toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

    Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và trình bày quan điểm giải quyết đối với vụ án:

    - Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, đại diện người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Hường tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Lương và anh Huấn chưa tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự do vắng mặt tại các phiên hòa giải, công khai chứng cứ, vắng mặt tại phiên tòa.

    - Đề nghị Hội đồng xét xử:

    1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc chị Trần Thị Lương có nghĩa vụ trả chị Dương Thị Hường 350.000.000 đồng theo Giấy vay tiền ngày 18/01/2023 và 74.984.000 đồng tiền lãi.
    2. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Tính theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
    3. Về án phí:
      • Buộc bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
      • Hoàn trả nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Quan hệ tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là quan hệ dân sự giữa cá nhân với cá nhân liên quan đến giao dịch vay tiền, nhưng không tự giải quyết được tranh chấp phát sinh, nguyên đơn đã làm đơn khởi kiện theo thủ tục tại Tòa án, nên quan hệ tranh chấp xác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”; bị đơn có địa chỉ tại thành phố Bắc Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang theo quy định tại các Điều 26; Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về sự có mặt của các đương sự: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, đại diện của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Hường có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn là chị Lương, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Huấn đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt tại phiên tòa, nên xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

  • Về hợp đồng vay tài sản: Theo lời khai của nguyên đơn và tài liệu hồ sơ do nguyên đơn nộp thể hiện việc giữa nguyên đơn và bị đơn có giao dịch vay tiền, theo đó chị Hường cho chị Lương vay 350.000.000 đồng, chị Lương viết Giấy vay tiền ngày 18/01/2023, hẹn ngày thanh toán là 18/02/2023, nhưng đến nay chưa trả được đồng nào. Phía bị đơn không có ý kiến gì phản đối với yêu cầu của nguyên đơn, nên đủ căn cứ chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả 350.000.000 đồng theo Giấy vay tiền ngày 18/01/2023 là phù hợp với quy định tại Điều 274, Điều 275, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015.
  • Về lãi suất chậm thanh toán: Do bị đơn không thanh toán đúng ngày đã thỏa thuận là ngày 18/02/2023, nên cần chấp nhận yêu cầu thanh toán lãi của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại Điều 357, khoản 4 Điều 466 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, theo đó lãi suất tính 10%/năm (0,83%/tháng, 0,027%/ ngày), tính từ ngày 19/02/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 09/4/2025 (02 năm 01 tháng 22 ngày) trên số tiền gốc 350.000.000 đồng chưa thanh toán như sau: 350.000.000đồngx2x10% + 350.000.000 đồngx0,83% + 350.000.000 đồngx22x0,027% = 70.000.000 đồng + 2.905.000 đồng + 2.079.000 đồng = 74.984.000 đồng.
  • [3] Về lãi suất chậm thi hành án: Do các bên không thoả thuận được về lãi suất chậm thi hành án, nên lãi suất chậm thi hành án được tính theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
  • [4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và hoàn trả tiền tạm ứng án phí do nguyên đơn đã nộp, là phù hợp với quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 274, Điều 275, Điều 357, Điều 463, khoản 1 và khoản 4 Điều 466, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc chị Trần Thị Lương có nghĩa vụ trả chị Dương Thị Hường 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng) theo Giấy vay tiền ngày 18/01/2023 và 74.984.000 đồng (Bẩy mươi tư triệu chín trăm tám tư nghìn đồng) tiền lãi.
  2. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  3. Về án phí:
    1. Buộc chị Trần Thị Lương phải chịu 20.999.000 đồng (Hai mươi triệu chín trăm chín mươi chín nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
    2. Hoàn trả chị Dương Thị Hường 10.131.000 đồng (Mười triệu một trăm ba mốt nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí, đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002099 ngày 25/10/2024, tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự.
  5. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND T. Bắc Giang;
  • - VKSND T. Bắc Giang
  • - VKS TP Bắc Giang,
  • - CCTHA dân sự TP.
  • - Các đương sự,
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Trần Mạnh Thắng

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/DS-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 24/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hường - Lương "TC HĐ vay TS"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger