Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHÀ BÈ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HS-ST

Ngày: 09 - 4 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phan Văn Tao
  2. Bà Trần Thị Bích Liên

Thư ký phiên toà: Bà Hà Hoa Thiên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Phạm Hữu Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 103/2024/TLST-HS ngày 25/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2025/QĐXXST-HS ngày 10/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 136/2025/HSST-QĐ ngày 17/3/2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Danh Phú; Giới tính: Nam; sinh năm 2004, tại tỉnh Kiên Giang; Đăng ký thường trú: Tổ D, ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở hiện nay: không có nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 4/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khơ - me; Tôn giáo: Không; Con ông Liêu Tường P và bà Thị G; vợ, con: không; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 20/10/2023, bị Toà án nhân dan huyen Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 03/7/2024; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/10/2024.

Bị hại: Anh Lê Hoàng Tấn Q, sinh năm 1999

Địa chỉ: Số H L, khu phố A, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 05/10/2024 anh Lê Hoàng Tấn Q điều khiển xe mô tô biển số 62L1-966.59, hiệu Wave Alpha, chở bạn gái là Nguyễn Ngọc H về nhà, trên đường về nhà hai người xảy ra cãi nhau nên anh Q dừng xe trước số nhà A đường H, khu phố D, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh và đạp xe ngã xuống vỉa hè rồi bỏ đi mua thuốc lá, còn chị H thì đi bộ về nhà, chìa khoá vẫn còn ở ổ khoá điện.

Khoảng 23 giờ 10 phút Danh P1 đi bộ trên vỉa hè đường H (hướng từ thị trấn N đi xã P), khi đi ngang qua nhà số A H thấy xe mô tô biển số 62L1 – 966.59 nằm trên vỉa hè trước nhà, chìa khóa còn cắm trong ổ khóa của xe nên P1 nảy sinh ý định trộm cắp xe. Quan sát xung quanh không có người trông coi, P1 dựng xe lên, rồi nổ máy điều khiển xe về nhà không số, hẻm A H, khu phố A, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh nơi P1 ở trọ để cất giấu.

Sau khi đi mua thuốc lá quay lại, anh Q không thấy xe nên gọi điện hỏi chị H thì chị H trả lời không biết, nghi ngờ xe bị mất trộm nên anh Q đến Công an thị trấn N trình báo. Sau khi tiếp nhận tin báo qua kiểm tra, xác minh Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đưa D về trụ sở làm việc.

Tại Cơ quan điều tra P1 khai nhận: Sau khi mang xe về nhà trọ, P1 mở cốp xe để kiểm tra nhưng không có giấy tờ gì, trong cốp xe có 01 cái cờ lê. Đến khoảng 07 giờ 30 ngày 06/10/2024, P1 lấy cờ lê mở biển số của xe 62L1 – 966.59 ra, rồi lấy biển số của chiếc xe Sirius mà P1 đang sử dụng 66C1 – 247.17 gắn vào xe Wave Alpha, còn biển số xe Wave Alpha P1 bỏ vào bên trong cốp của chiếc xe Sirius.

Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện N kết luận: 01 (một) xe mô tô biển số 62L1 – 966.59, nhãn hiệu Honda, số loại: Wave Anpha, màu Trắng Bạc, số khung: RLHJA3921NY525312, số máy: JA39E2992693, có giá trị là 15.800.000₫.

Xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu Đen, biển số 66C1 – 247.17 Phú mua lại của anh Danh Q1 (em trai P1) với giá 6.500.000 đồng vào khoảng tháng 09/2024. Hiện nay giấy đăng ký xe P1 đang cầm tại một tiệm cầm đồ trên đường D, P1 không nhớ rõ tên, địa chỉ tiệm cầm đồ.

Anh Danh Q1 khai nhận: Xe mô tô hiệu Sirius, màu Đen, biển số 66C1-247.17 được anh mua lại từ người lạ (không rõ nhân thân lai lịch) tại huyện B, tỉnh Long An (không nhớ địa chỉ cụ thể) vào khoảng tháng 9/2023 với giá 6.000.000đ. Sau khi mua về anh Q1 sử dụng rồi bán lại cho P1.

Tại bản Cáo trạng số 87/CT-VKS-NB ngày 22/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh, truy tố bị cáo Danh P1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trình bày luận tội và tranh luận: Giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Danh P1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 cờ lê, 01 tuốc nơ vít, 01 quần Jean, 01 áo sơ mi. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus. Giao cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng thông báo tìm chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển số 66C1-247.17.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường dân sự nên đề nghị không xét.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Nói lời sau cùng: Bị cáo nhận tội, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố Tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng Khoảng 23 giờ 10 phút ngày 05/10/2024, tại trước nhà số A đường H, Khu phố D, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh, Danh P1 đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là xe mô tô biển số 62L1 - 966.59 hiệu Honda Wave Alpha của anh Nguyễn Hoàng Tấn Q2, trị giá 15.800.000 đồng. Hành vi của bị cáo Danh P1 đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[3] Xét tính chất vụ án và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Vụ án thuộc ít loại nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà tiếp tục đi vào con đường phạm tội. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo vì phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên toà khai báo thành khẩn. Ngoài ra việc bị hại không quản lý tài sản cũng dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội phạm này ngoài hình phạt chính còn có thể áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.

[5] Về xử lý vật chứng và Biện pháp tư pháp: Quá trình điều tra thu giữ 01 chiếc cờ lê, 01 tuốc nơ vít bị cáo sử dụng để thay biển số xe là của anh Nguyễn Hoàng Tấn Q2, anh Q2 không nhận lại nên cần tịch thu tiêu huỷ; 01 quần Jean, 01 áo thun thu giữ của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng bị cáo không nhận lại nên cần tịch thu tiêu huỷ; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus thu giữ của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo; 01 xe mô tô thu giữ của bị cáo nhưng không có tài liệu nào thể hiện đó là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo, hiện nay chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên cần giao cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà bị hại vắng mặt, nhưng quá trình điều tra, bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.

[7] Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Danh P1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/10/2024.

- Về xử lý vật chứng và Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ 01 cờ lê 02 đầu mở loại 10x14mm, chiều dài khoảng 14cm; 01 tuốc nơ vít dài khoảng 14cm, cán màu đen; 01 quần Jean, màu trắng; 01 áo sơ mi ngắn, màu đen.

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, số seri: GHHWX0YAJCM2, số I: 354830093935536, tình trạng bể màn hình.

Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh đăng thông báo tìm chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển số 66C1-247.17 màu đen, vỏ xe nhãn hiệu Sirius, số khung: RPEXCH8PEFA177814, số máy: VDEJQ152FMHB177814, tình trạng đã qua sử dụng. Hết thời hạn 01 năm kể từ ngày đăng thông báo mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

- Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Danh P1 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND TPHCM;
  • - VKSND huyện Nhà Bè;
  • - Công an TPHCM;
  • - Chi cục THADS huyện Nhà Bè;
  • - Thi hành án HS huyện Nhà Bè;
  • - Sở Tư pháp TP HCM;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HS-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 24/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Danh Ph phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger