|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST
Ngày 27-3-2025
V/v ly hôn và tranh chấp nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chữ Cần
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Đăng Thành;
- Ông Nguyễn Thanh Cần.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lềnh Khâm Vĩ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Thế - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 404/2024/TLST-HNGĐ, ngày 23 tháng 10 năm 2024 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/02/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Mỹ T, sinh năm 1999, thường trú: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang; tạm trú: tổ C, khu phố E, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt;
- Bị đơn: Ông Đặng Phát T1, sinh năm 1993, thường trú: ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh An Giang; tạm trú: tổ C, khu phố E, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ T trình bày:
Bà Lê Thị Mỹ T và ông Đặng Phát T1 quen biết và có tình cảm với nhau từ năm đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 84/2020. Sau khi kết hôn, vợ chồng đến Bình Dương để sinh sống và làm việc tại khu phố E, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Quá trình chung sống, cuộc sống gia đình ổn định, bà T sinh 01 người con là Đặng Lê An C, sinh ngày 19/11/2022. Quá trình chung sống, ông T1 không tu chí làm ăn, vay nợ của nhiều người nhưng không dùng vào mục đích chung của gia đình mà tiêu xài cá nhân, mà dùng vào việc cá độ bóng đá. Bà T bị nhiều người gọi điện thoại yêu cầu trả nợ nên phải trích ra một phần để trả nợ cho ông T1. Tiền lương của ông T1 do ông T1 tự quản lý tiêu xài, không chăm lo cho bà T và con. Dù nhiều lần bà T khuyên nhủ nhưng ông T1 không thay đổi nên giữa bà T và ông T1 thường xuyên xảy ra cãi nhau, bất đồng trong cuộc sống, không còn quan tâm đến nhau, bỏ mặc, không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Bà T đã dọn ra ngoài, sinh sống ở nhà trọ khác, không sống chung với ông T1 từ tháng 5 năm 2024 cho đến nay. Hiện tại tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu giải quyết những vấn đề sau:
- Về quan hệ hôn nhân: bà Lê Thị Mỹ T yêu cầu được ly hôn ông Đặng Phát T1.
- Về con chung: Bà Lê Thị Mỹ T đề nghị Tòa án giao con tên Đặng Lê An C, sinh ngày 19/11/2022 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng; không yêu cầu ông Đặng Phát T1 phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Đặng Phát T1: Không có bản tự khai, không đến Tòa án làm việc.
- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa:
Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định. Đại diện Viện kiểm sát không có kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình mà bị đơn cư trú tại thành phố T và nguyên đơn đề nghị TAND thành phố Tân Uyên giải quyết. Căn cứ vào Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Bị đơn ông Đặng Phát T1 được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 227 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án: Bà Lê Thị Mỹ T và ông Đặng Phát T1 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 84/2020, đây là hôn nhân hợp pháp. Theo bà T trình bày, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn vì ông T1 không tu chí làm ăn, vay nợ của nhiều người nhưng không dùng vào mục đích chung của gia đình mà tiêu xài cá nhân, mà dùng vào việc cá độ bóng đá. Bà T bị nhiều người gọi điện thoại yêu cầu trả nợ nên phải trích ra một phần để trả nợ cho ông T1. Tiền lương của ông T1 do ông T1 tự quản lý tiêu xài, không chăm lo cho bà T và con. Dù nhiều lần bà T khuyên nhủ nhưng ông T1 không thay đổi nên giữa bà T và ông T1 thường xuyên xảy ra cãi nhau, bất đồng trong cuộc sống, không còn quan tâm đến nhau, bỏ mặc, không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Bà T đã dọn ra ngoài, sinh sống ở nhà trọ khác, không sống chung (ly thân) với ông T1 từ tháng 5 năm 2024 cho đến nay. Khi bà T đề nghị ly hôn, ông T1 biết, nhưng không thể hiện sự thay đổi, dù được thông báo thụ lý vụ án và Tòa án đã nhiều lần tổ chức và triệu tập ông tham gia hòa giải nhưng ông đều không đến cũng không có bản tự khai trình bày nguyện vọng đoàn tụ, điều này đã cho thấy ông T1 đã không quan tâm đến cuộc hôn nhân với bà T, vợ chồng không còn yêu thương, chăm sóc nhau, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà T là có cơ sở để chấp nhận.
[3] Trong quá trình chung sống vợ chồng có con chung tên Đặng Lê An C, sinh ngày 19/11/2022, cháu Đặng Lê An C, sinh ngày 19/11/2022 đang sống chung với bà T. Xét thấy, cháu C đang sống với bà Lê Thị Mỹ T nên cần giữ ổn định về chỗ ở để không ảnh hưởng tâm lý, sự phát triển bình thường của cháu, cần giao cháu Đặng Lê An C cho bà Lê Thị Mỹ T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng theo yêu cầu của bà T. Trường hợp sau này, bà T khó khăn hoặc nhu cầu cấp dưỡng của cháu C có sự thay đổi thì bà T có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con trong một vụ án khác.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Thị Mỹ T phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 269, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ T về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con với bị đơn ông Đặng Phát T1.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Mỹ T được ly hôn với ông Đặng Phát T1.
- Về con chung:
Giao con chung tên Đặng Lê An C, sinh ngày 19/11/2022 cho bà Lê Thị Mỹ T trực tiếp nuôi dưỡng.
Ông Đặng Phát T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bà Lê Thị Mỹ T và ông Đặng Phát T1 đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Thị Mỹ T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số BLTU/24/0004466 ngày 18/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chữ Cần |
Bản án số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn và tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 24/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Theo bà T trình bày, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn vì ông T1 không tu chí làm ăn, vay nợ của nhiều người nhưng không dùng vào mục đích chung của gia đình mà tiêu xài cá nhân, mà dùng vào việc cá độ bóng đá. Bà T bị nhiều người gọi điện thoại yêu cầu trả nợ nên phải trích ra một phần để trả nợ cho ông T1. Tiền lương của ông T1 do ông T1 tự quản lý tiêu xài, không chăm lo cho bà T và con
