|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 24/2025/HS-ST Ngày 24 - 3 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thái Sơn.
Thẩm Phán: Ông Huỳnh Thành Ý.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Kiều Văn Thọ;
- Ông Phạm Trường Giang;
- Bà Đặng Hồng Luyến
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nhật Anh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 02/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Trần Hoàng B, sinh ngày 27/4/1988; tại huyện L, tỉnh Hậu Giang; nơi cư trú: Khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hoàng L và bà Hồng Siếu H; có vợ là Võ Thị Như T và 02 người con (lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2020); tiền án: không; tiền sự: có 01 tiền sự: ngày 24/11/2023 bị Công an thị xã L, tỉnh Hậu Giang xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý; nộp phạt xong ngày 24/11/2023; nhân thân: xấu; bị bắt tạm giữ từ ngày 21/5/2024 đến ngày 30/5/2024 chuyển tạm giam đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt.
- Người bào chữa của bị cáo B: Ông Trần Văn Đ. Là Luật sư Văn phòng L1, Đoàn luật sư tỉnh H; có mặt.
- Bị hại: Nguyễn Bé T1, sinh năm 1988.
Nơi cư trú: Khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Võ Thị Như T, sinh năm 1995.
Nơi cư trú: Khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang; có mặt.
- Hồng Siếu H, sinh năm 1965.
Nơi cư trú: Khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang; có mặt.
Người làm chứng:
- Hồng C, sinh năm 1989; vắng mặt.
- Nguyễn Thị Bảo N, sinh năm 1993; vắng mặt.
- Nguyễn Nhựt K, sinh năm 2006; vắng mặt.
- Ngô Gia B1, sinh năm 2004; vắng mặt.
- Ngô Thiên Â, sinh năm 2006; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Trần Hoàng B (viết tắt bị cáo) và bị hại Nguyễn Bé T1 (viết tắt bị hại) có mối quan hệ bạn bè. Khoảng hơn 22 giờ ngày 20/5/2024 khi đang ngồi nhậu tại quán T2 thuộc khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang thì bị cáo thấy bị hại cùng ông Hồng C đi nhậu về nên bị cáo gọi Hồng C và bị hại vào quán T2. Tại quán T2, bị cáo, Hồng C và bị hại ngồi uống được khoảng 03-04 lon bia thì bị cáo nhớ lại mối quan hệ giữa vợ của bị cáo với ông Nguyễn Trung K1 nên nóng giận ghen tuông. Lúc này, bị cáo đứng dậy nói đi tìm K1 để giết K1, thấy vậy Hồng C ôm bị cáo lại, Hồng C và bị hại khuyên “Anh em lớn hết rồi có gì gặp nói chuyện sau”. Khi thấy bị cáo đã không còn nóng giận thì bị hại và Hồng C nói về nhà nên bị cáo rủ bị hại và Hồng C đến quán K2 thuộc khu vực Bình Thạnh B, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang để tiếp tục nhậu và hát Karaoke, thì cả hai đồng ý. Bị cáo dùng điện thoại của mình gọi lại quán K2 để đặt phòng và cùng đến quán.
Đến 23 giờ 50 phút ngày 20/5/2024, cả ba đến quán và vào quầy tiếp tân lấy phòng Vip số 05 (phòng do bị cáo điện thoại đặt trước đó) để tiếp tục nhậu và ca hát. Lúc này trong phòng có bị cáo, bị hại, Hồng C và Như (quản lý quán K2) cùng ngồi nói chuyện được khoảng 05 phút thì có một số tiếp viên nữ vào phòng nhưng Hồng C kêu đi ra ngoài để Hồng C, bị cáo và bị hại nói chuyện với nhau, thì N và các tiếp viên đi ra ngoài. Trong phòng còn lại bị cáo Trần Hoàng B, bị hại Nguyễn Bé T1 và Hồng C, cả ba cùng rót bia vào ly để uống thì bị cáo lại tiếp tục nhắc lại chuyện bản thân ghen tuông với mối quan hệ của vợ và K1 nên bị hại và Hồng C tiếp tục khuyên Bảo “Lo làm ăn đừng có ghen tuông đòi đánh người khác nữa” (do trước đó có lần B đã đánh nhau với K1), nhưng bị cáo không nghe mà càng nói lớn tiếng hơn trong phòng. Do đã khuyên nhiều lần nhưng bị cáo không nghe và ngày càng thể hiện thái độ nóng giận nên bị hại cũng lớn tiếng nói lại với bị cáo là “Mày ngu quá hà lớn rồi nói hoài mà không nghe”. Nghe vậy bị cáo xông tới dùng tay chụp cổ áo của bị hại, được Hồng C đi lại gỡ tay bị cáo ra. Sau đó bị cáo cầm cái ly uống bia đập mạnh một cái (không rõ trúng vào đâu) làm cái ly bị vở ra. Bị cáo cầm phần cái ly bị vở ném về phía người bị hại nhưng không trúng, mà trúng vào tường làm mảnh vở ly bay trúng vào phần cổ bên phải của bị hại chảy máu. Thấy vậy bị hại mở cửa phòng đi vào phòng bếp của quán Karaoke để gọi điện cho vợ T1 rước về. Do bản thân còn tức giận vì mâu thuẫn xảy ra nên bị cáo tiếp tục chạy ra phía cửa chính quầy lễ tân kiếm bị cáo để đánh thì Hồng C chạy theo can nhăn, bị cáo vừa đi vừa rút dây thắt lưng đang đeo trên người quấn vào cánh tay phải để làm hung khí. Khi ra tới quầy tính tiền bị cáo không thấy bị hại. H1 chuyên ôm bị cáo lại nhưng bị cáo vùng vẩy đi vào phía trong phòng bếp quán Karaoke kiếm bị hại đánh, nên Hồng C tiếp tục chạy theo kéo bị cáo ra đến tới quầy tiếp tân thì bị cáo tiếp tục vùng vẫy làm Hồng C ngã xuống nền gạch. Lúc này, bị cáo chạy đến phòng bếp của quán Karaoke mở cửa đi vào thì nhìn thấy cây dao (loại dao Thái lan) chiều dài 24cm, phần lưỡi dao bằng kim loại màu bạc dài 12,5cm, có một cạnh sắc bén, mũi dao nhọn, bề bản rộng nhất 2,5cm, phần cán dao ốp nhựa màu trắng có nhiều hoa văn màu xanh đang để trên bàn của nhà bếp. Lập tức bị cáo dùng tay trái lấy cây dao đưa qua tay phải, tay phải bị cáo cầm dao và trên tay còn đang quấn sợi dây thắt lưng. Bị cáo cầm phần cán dao, mũi dao hướng ra ngoài bước tới nơi bị hại đang đứng đâm vào hông bụng bên trái của bị hại một nhát làm thủng đại tràng. Sau khi đâm bị hại nhát đầu tiên do sàn nhà trơn trượt nên bị cáo loạng choạng nhưng không té ngã mà tiếp tục đứng lên dùng tay trái nắm cổ áo bị hại tay phải cầm con dao đâm hướng vào bụng bị hại một nhát nhưng trúng vào sợi dây thắt lưng bị hại đang đeo làm thủng một lỗ trên dây thắt lưng. Lúc này, tay trái bị cáo vẫn nắm cổ áo bị hại tay phải bị cáo cầm con dao tiếp tục đâm hướng vào cổ trái của bị hại một nhát nhưng do bị hại lùi người tránh nên chỉ làm sước nhẹ da vùng cổ bên trái. Bị cáo tiếp tục đâm một nhát hướng vào bụng của bị hại, bị hại lùi người tránh nên không để lại thương tích. Tiếp đó tay trái của bị cáo vẫn đang nắm cổ áo bị hại lôi ngược ra cửa phòng bếp, tay phải cầm dao thì Hồng C chạy vào đứng giữa bị cáo và bị hại, C ôm bị cáo lại để can ngăn nhưng bị cáo tiếp tục cầm dao đưa lên đâm hướng vào đầu của bị hại một nhát nhưng do Hồng C đứng ngăn ở giữa nên phần cán dao của bị cáo trúng và làm trầy da vùng trán bên trái của bị hại. Hồng Chuyên tiếp tục ôm bị cáo và can ngăn nhưng bị cáo không buông bị hại ra mà vẫn nắm cổ áo của bị hại kéo ra tới quầy lễ tân phía trước. Sau đó Hồng C đẩy bị cáo ra ngoài vị trí đậu xe, bị cáo ném cây dao xuống nền gạch và lấy dây thắt lưng treo lên xe chạy về nhà. Bị hại được mọi người đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế Thị xã L, sau đó chuyển lên Bệnh viện Đ1 để điều trị. Ngày 21/5/2024 bị cáo đến Công an phường B đầu thú.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 249/KLTTCT-TTPYCT ngày 27/05/2024 của Trung tâm Pháp y thành phố C kết luận:
“1. Các kết quả chính:
Vết thương vùng hông trái gây thủng 02 lỗ đại tràng, thủng phúc mạc và đứt cơ thành bụng đã được điều trị phẫu thuật thám sát, khâu lỗ thủng đại tràng, khâu cơ, đưa đoạn cuối hồi tràng ra da, đặt dẫn lưu, hồi sức nội khoa. Hiện tại vết thương, vết phẫu thuật đang lành, ống dẫn lưu vùng hạ sườn trái còn lưu dụng cụ, hiện tại còn đặt túi hỗng tràng vùng hố chậu phải.
Vết sây sát da vùng trán trái và vết trầy xước mất biểu bì da vùng cổ phải đã được điều trị. Hiện tại vết sây sát da và trầy xước da đang lành.
2. Kết luận:
2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 08 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Bé T1 tại thời điểm giám định là: 44% (bốn mươi bốn phần trăm).
2.2. Tỷ lệ từng vết thương:
- Vết thương vùng hông trái có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 01% (một phần trăm).
- Vết phẫu thuật đường trắng giữa có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 02% (hai phần trăm).
- Thủng phúc mạc có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 03% (ba phần trăm).
- Thủng 02 (hai) lỗ đại tràng có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 41% (bốn mươi mốt phần trăm).
- Tổn thương đứt cơ thành bụng, vết sây sát da và vết trầy xước mất biểu bì da hiện tại chưa lành, đang được điều trị; vị trí ống dẫn lưu vùng hạ sườn trái và vị trí đặt túi hổng tràng vùng hố chậu phải hiện tại không xác định kích thước nên chưa có tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể theo quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 08 năm 2019 của Bộ Y.
2.3. Vật gây thương tích:
- Vết thương vùng hông trái phù hợp với cơ chế do vật sắc nhọn gây ra.
- Vết trầy xước mất biểu bì da vùng cổ phải phù hợp với cơ chế do vật sắc gây ra.
- Vết sây sát da vùng trán trái phù hợp với cơ chế do vật tày gây ra
2.4. Cơ chế hình thành dấu vết:
- Vết thương vùng hông trái có chiều hướng từ trái sang phải, từ trước ra sau.
- Vết sây sát da vùng trán trái và vết trầy xước mất biểu bì da vùng cổ phải không có cơ sở khoa học để xác định chiều hướng.”.
Căn cứ Kết luận giám định số 4368/KL-KTHS ngày 13/9/2024 của Phân viện Khoa học Hình sự Bộ C1 tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: “Vết rách trên áo vải thun, cổ tròn ngắn tay màu đen và vết rách trên thắt lưng gửi giám định là do công cụ có lưỡi sắc tạo ra. Đặc điểm dấu vết trên không đủ cơ sở xác định các dấu vết trên có phải cây dao gửi giám định tạo ra hay không”.
Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:
- 01 (một) Áo sơ mi dài tay màu trắng, trên áo có dính nhiều vết màu đỏ nghi là máu ở nhiều vị trí như cổ tay áo bên trái, vạc áo trái, vạc áo phải, vùng lưng áo.
- 01 (một) Quần tây bằng vải màu xanh (Đã qua sử dụng).
- 01 (một) đôi giầy tây, màu đen, phía dưới đế giầy có dính chất màu đỏ nghi là máu (đã qua sử dụng).
- 01 (một) sợi dây thắt lưng, màu nâu, dây da có ghi chữ DIESEL có chiều dài 110cm đầu dây thất lưng mất (Đã qua sử dụng).
- 01 (một) cây dao (loại dao Thái Lan), chiều dài 24cm. phần lưỡi dao bằng kim loại màu bạc dài 12,5cm. có một cạnh sắc bén, mũi dao nhọn, bề bản rộng nhất 2.5cm. lưỡi dao bị cong vênh, phần cán dao ốp nhựa 02 màu trắng có nhiều hoa văn màu xanh.
- 01 (một) bọc mảnh vở thủy tinh có trọng lượng 1.2 kg; nhiều mảnh vở thu trong phòng hát Víp số 05.
- 01 (một) cái áo bằng vải thun, cổ tròn, ngắn tay màu đen, mặt trước áo có in chữ "DSQUARED2" màu hồng, mặt áo phía trước bên trái có 01 (một) vết rách dài 0.7cm cách viền áo 11cm, mặt áo phía sau bên trái có 01 (một) vết rách dài 1.7cm cách viền áo 14cm.
- 01 (một) cái quần sọt bằng vảy lean màu xanh (đã qua sử dụng).
- 01 (một) cái quần lót màu xám, vị trí lưng quần bên phải có dính vết màu đỏ nghi là máu (đã qua sử dụng).
- 01 (một) sợi dây thắt lưng có tổng chiều dài 120cm, phần đầu bằng kim loại màu vàng mặt ngoài có in chữ "CA" dài (7x3,5)cm, dây bằng da màu nâu dài 113cm, bề bản rộng nhất 03cm, mặt ngoài phía trên dây thất lưng có 01 (một) vết rách mất da kích thước (0,7x1) cm cách đầu thất lưng 17cm.
Tất cả các vật chứng hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Nguyễn Bé T1 yêu cầu bồi thường thiệt hại số tiền 245.000.000 đồng. Quá trình điều tra gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ số tiền trên theo yêu cầu của bị hại xong. Bị hại không yêu cầu gì thêm.
Tại Cáo trạng số 10/CT-VKSHG-P1 ngày 08 tháng 01 năm 2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo Trần Hoàng B về tội Giết người theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (viết tắt Bộ luật Hình sự).
Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng B phạm tội Giết người.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự; Điều 38; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 57 của Bộ luật Hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Hoàng B từ 05 năm đến 06 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: đề nghị không xem xét, do bị hại không yêu cầu.
Về vật chứng, đề nghị: tịch thu tiêu hủy, do không còn giá trị sử dụng.
Phát biểu tự bào chữa, bị cáo yêu cầu Người bào chữa, bào chữa cho bị cáo.
Phát biểu bào chữa cho bị cáo, người bào chữa nêu quan điểm: tại phiên toà bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, nên cáo trạng truy tố bị cáo phạm tội Giết người là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã ăn năn hối cải, tác động gia đình khắc phục toàn bộ hậu quả, được bị hại bãi nại; hoàn cảnh gia đình có 02 con nhỏ, gia đình có thân nhân có công với đất nước. Đề nghị áp dụng cho bị cáo hưởng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà. Về mức hình phạt, áp dụng cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.
Bị hại: vắng mặt tại phiên toà, nên không phát biểu yêu cầu.
Phát biểu đối đáp: không.
Nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, xin giảm nhẹ hình phạt để sớm về nuôi dạy các con nhỏ, lo cho cha, mẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Xét hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: tại phiên toà, bị hại và 05 người làm chứng vắng mặt. Xét người vắng mặt đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của những người này tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ các điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, vẫn xét xử vụ án.
- Về tội danh: tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Xét thừa nhận của bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, có đủ cơ sở xác định: ngày 20/5/2024 bị cáo rủ người bạn tên C và bị hại Nguyễn Bé T1 nhậu chung tại quán T2, sau đó cả 03 người đến quán K2 thuộc khu vực Bình Thạnh B, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang để ca hát và nhậu tiếp. Tại đây bị cáo tiếp tục nhắc lại chuyện ghen tuông giữa vợ bị cáo tên Võ Thị Như T với ông Nguyễn Trung K1 nên bị hại và ông Hồng C khuyên Bảo “Lo làm ăn, đừng có ghen tuông đòi đánh người khác nữa”. Do đã khuyên nhiều lần nhưng bị cáo không nghe và ngày càng thể hiện thái độ nóng giận, nên bị hại cũng lớn tiếng nói lại với bị cáo: “Mày ngu quá hà lớn rồi nói hoài mà không nghe”. Nghe vậy, bị cáo xông tới dùng tay chụp cổ áo của bị hại và được ông C căn ngăn. Bị cáo tiếp tục cầm cái ly uống bia đập mạnh xuống bàn làm bể lý, bị cáo cầm phần cái ly bị vở ném về phía bị hại nhưng không trúng. Bị hại thấy vậy mở cửa phòng bỏ ra ngoài, đi xuống phòng bếp của quán. Do bực tức, bị cáo tiếp tục đi theo tìm bị hại, khi đến phòng bếp của quán, bị cáo nhìn thấy cây dao (loại dao Thái Lan) chiều dài 24cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 12,5cm, có một cạnh sắc bén, mũi dao nhọn, bề bản rộng nhất 2,5cm, phần cán dao ốp nhựa màu trắng có nhiều hoa văn màu xanh đang để trên bàn. Bị cáo cầm dao bước tới nơi bị hại đang đứng đâm vào hông bụng bên trái của bị hại một nhát làm thủng đại tràng. Sau khi đâm bị hại nhát đầu tiên do sàn nhà trơn trượt nên bị cáo loạng choạng nhưng không té ngã, bị cáo tiếp tục đứng lên dùng tay trái nắm cổ áo bị hại, tay phải cầm con dao đâm hướng vào bụng bị hại một nhát nhưng trúng vào sợi dây thắt lưng bị hại đang đeo làm thủng một lỗ trên dây thắt lưng. Lúc này, tay trái bị cáo vẫn nắm cổ áo bị hại tay phải bị cáo cầm con dao tiếp tục đâm hướng vào cổ trái của bị hại một nhát nhưng do bị hại lùi người tránh, nên chỉ làm sước nhẹ da vùng cổ bên trái. Bị cáo tiếp tục đâm một nhát hướng vào bụng của bị hại, bị hại lùi người tránh nên không để lại thương tích, thì ông C chạy vào can ngăn đẩy bị cáo ra ngoài vị trí đậu xe. Bị cáo ném cây dao xuống nền gạch, lên xe chạy về nhà. Đến ngày 21/5/2024 bị cáo đến Công an phường B, thị xã L đầu thú. Theo Kết luận giám định của cơ quan chức năng, bị hại Nguyễn Bé T1 bị thương tích tổn hại đến sức khoẻ là 44% (bốn mươi bốn phần trăm).
- Xét thấy, giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn gì trước, trong lúc nhậu khi bị hại khuyên can và có lời nói xúc phạm, bị cáo bực tức dùng dao Thái Lan, là hung khí nguyên hiểm đâm liên tục nhiều nhát vào vùng bụng, thắt lưng, vùng cổ của bị hại (là những vùng trọng yếu trên cơ thể con người), làm thủng 02 lỗ đại tràng, thủng phúc mạc, đứt cơ hoành bụng. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thể hiện tính quyết liệt, bất chấp hậu quả có xảy ra với bị hại như thế nào cũng mặc kệ. Bị hại bị thương tích nhưng không tử vong là do được cứu chữa kịp thời. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Giết người, nhưng thuộc trường hợp chưa đạt như cáo trạng truy tố.
- Về khung hình phạt: Bị cáo là người chủ động rủ bị hại nhậu chung, hai bên là bạn bè, không có mâu thuẫn gì trước. Tại tiệc nhậu, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt bị hại có lời nói khuyên can, bị cáo cho rằng xúc phạm mình, nên nhanh chóng lấy sợi dây thắt lưng (dây nịt) và sau đó là dao Thái Lan đâm nhiều nhát vào cơ thể bị hại. Do đó, hành vi phạm tội Giết người của bị cáo thuộc trường hợp “Có tính chất côn đồ”, nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
- Xét tính chất của vụ án và hậu quả gây ra.
[6.1]. Vụ án chỉ có một bị cáo, tự mình thực hiện hành vi phạm tội, không có đồng phạm khác. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống hàng ngày, trước đó là bạn bè cùng nhậu chung, trong lúc nóng giận bị cáo thiếu kiềm chế nên đã xâm phạm đến sức khoẻ, tính mạng của bị hại, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương.
[6.2]. Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra hậu quả là bị hại bị thiệt hại 44% sức khoẻ, thuộc trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, được thực hiện với lỗi cố ý. Nên cần phải xử lý bằng hình phạt nghiêm khắc, đủ để răn đe giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung loại tội phạm này tại địa phương.
- Tình tiết tăng nặng: không.
- Tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra, cũng như tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; sau khi phạm tội có tác động gia đình thoả thuận bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo có thành tích trong quá trình làm việc, được cơ quan sử dụng lao động tặng giấy khen; có thân nhân là người có công với Nhà nước; sau khi thực hiện hành vi có đến cơ quan chức năng đầu thú, nên xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Về mức hình phạt: cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội đã gây ra, thái độ khắc phục hậu quả, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét bị cáo phạm tội trong trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhất là việc bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt, nên áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ đặc biệt theo khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt xét xử. Ngoài ra bị cáo phạm tội Giết người nhưng thuộc trường hợp chưa đạt, nên được áp dụng Điều 57 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.
- Về đề nghị của Kiểm sát viên, người bào chữa, yêu cầu của người tham gia tố tụng.
[11.1]. Đối với đề nghị của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 57 của Bộ luật Hình sự.
[11.2]. Đối với đề nghị của người bào chữa. Chấp nhận cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ và áp dụng mức hình phạt thấp nhất như đề nghị.
- Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, bị hại đã thoả thuận nhận của bị cáo số tiền 245.000.000 đồng xong. Tại phiên toà bị hại không yêu cầu gì thêm, nên không xem xét.
- Về đồ vật đã thu giữ trong vụ án:
Tất cả đồ vật đã thu giữ, là vật chứng có liên quan đến vụ án hoặc không liên quan đến vụ án, nhưng hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 268, 269, 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Hoàng B phạm tội Giết người.
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 38; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 57 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Hoàng B 05 (năm) năm tù. Thời hạn tính từ ngày 21/5/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án, thời hạn tính từ ngày 24/3/2025.
- Về trách nhiệm dân sự: không xem xét giải quyết, do bị hại không yêu cầu.
- Về đồ vật đã thu giữ: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ:
- 01 (một) Áo sơ mi dài tay màu trắng, trên áo có dính nhiều vết màu đỏ nghi là máu ở nhiều vị trí như cổ tay áo bên trái, vạc áo trái, vạc áo phải, vùng lưng áo.
- 01 (một) Quần tây bằng vải màu xanh (Đã qua sử dụng).
- 01 (một) đôi giầy màu đen, phía dưới đế giầy có dính chất màu đỏ nghi là máu (đã qua sử dụng).
- 01 (một) sợi dây thắt lưng, màu nâu, dây da có ghi chữ DIESEL có chiều dài 110cm đầu dây thất lưng mất (Đã qua sử dụng).
- 01 (một) cây dao (loại dao Thái Lan), chiều dài 24cm. phần lưỡi dao bằng kim loại màu bạc dài 12,5cm. có một cạnh sắc bén, mũi dao nhọn, bề bản rộng nhất 2.5cm. lưỡi dao bị cong vênh, phần cán dao ốp nhựa 02 màu trắng có nhiều hoa văn màu xanh.
- 01 (một) bọc mảnh vở thủy tinh có trọng lượng 1.2 kg; nhiều mảnh vở thu trong phòng hát Víp số 05.
- 01 (một) cái áo bằng vải thun, cổ tròn, ngắn tay màu đen, mặt trước áo có in chữ "DSQUARED2" màu hồng, mặt áo phía trước bên trái có 01 (một) vết rách dài 0.7cm cách viền áo 11cm, mặt áo phía sau bên trái có 01 (một) vết rách dài 1.7cm cách viền áo 14cm.
- 01 (một) cái quần sọt bằng vảy lean màu xanh (Đã qua sử dụng).
- 01 (một) cái quần lót màu xám, vị trí lưng quần bên phải có dính vết màu đỏ nghi là máu (Đã qua sử dụng).
- 01 (một) sợi dây thắt lưng có tổng chiều dài 120cm, phần đầu bằng kim loại màu vàng mặt ngoài có in chữ "CA" dài (7x3,5)cm, dây bằng da màu nâu dài 113cm, bề bản rộng nhất 03cm, mặt ngoài phía trên dây thất lưng có 01 (một) vết rách mất da kích thước (0,7x1) cm cách đầu thất lưng 17cm.
Vật chứng được xác định theo Quyết định chuyển vật chứng số 05/QĐ-VKSHGP1 ngày 08/01/2025; kèm theo Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, vật chứng ngày 24/01/2025.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức án phí, lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Trần Hoàng B chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Thẩm phán |
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa |
|
|
Võ Thái S |
|
Hội thẩm nhân dân |
|
Bản án số 24/2025/HS-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về giết người
- Số bản án: 24/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giết người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không
