Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM THAO

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HS-ST

Ngày 24/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO - TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Hà Thu.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tiến Dũng.

2. Bà Đặng Thị Thu Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hoàng Diệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/20245TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST - HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Trung Q

sinh ngày 23 tháng 10 năm 2001 tại huyện L, tỉnh Phú Thọ; nơi ĐKHKTT: Khu B, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ; chỗ ở hiện nay: Khu D, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Trung D, sinh năm 1972 và bà: Bùi Thị L, sinh năm 1979; vợ, con: Chưa có; tiền án: Bản án số 11/2022/HSST ngày 23/3/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xử phạt Trần Trung Q 24 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Bản án số 19/2022/HSST ngày 27/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xử phạt Trần Trung Q 07 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Tổng hợp hình phạt của 02 bản án là 31 tháng tù (Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/7/2024); tiền sự: Không; bị bắt khẩn cấp ngày 16/12/2024 đến ngày 24/12/2024 bị khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P; có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Hán Thanh T, sinh năm 2005.
  2. Địa chỉ: Khu H, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ.

  3. Ông Trần Trung D, sinh năm 1972.
  4. Địa chỉ: Khu B, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ.

  5. Chị Kiều Thị Mỹ A, sinh năm 2003.
  6. Địa chỉ: Tổ dân phố số A, thị trấn P, huyện P, TP ..

    Anh T, ông D, chị A đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 16/12/2024, tổ công tác Công an huyện L trên đường tuần tra đến đoạn đường thuộc khu H, xã T, huyện L phát hiện Trần Trung Q, sinh năm 2001, trú tại khu B, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ, chỗ ở hiện tại: Khu D, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ ngồi trên xe mô tô biển kiểm soát 19S1-385.33 đang dừng đỗ ven đường có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, Q khai nhận bản thân đang cất giấu ma túy thường gọi là T1 với mục đích tàng trữ để bán, đồng thời Q tự nguyện lấy từ trong túi vải có quai đeo, đang đeo trước ngực của mình giao nộp cho tổ công tác 06 túi nilon màu trắng, miệng túi có khuy bấm và đường kẻ màu đỏ, bên trong chứa các chất dạng sợi thực vật màu vàng. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong, tạm giữ số ma túy trên theo quy định. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn tạm giữ của Q: 01 túi vải màu nâu, có quai đeo bằng vải màu xanh-đỏ, 01 xe mô tô biển kiểm soát 19S1-285.33, 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone Xsmax màu đen có gắn sim số 0347658263.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Trung Q, quá trình khám xét đã phát hiện và thu giữ: 05 túi nilon màu trắng, miệng túi có khuy bấm viền màu đỏ, bên trong có chứa các chất dạng sợi thực vật màu vàng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã có quyết định trưng cầu giám định đối với toàn bộ chất dạng sợi thực vật màu vàng đã thu giữ của Q. Tại bản Kết luận giám định số 1705/KL-KTHS ngày 20/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận:

  • “- Chất sợi thực vật màu vàng chứa bên trong 06 túi nilon niêm phong trong bì giấy ghi đồ vật tạm giữ của Trần Trung Q, gửi đến giám định có tổng khối lượng là: 9,970 gam; có chất ma túy, loại MDMB – BUNITINACA.
  • - Chất sợi thực vật màu vàng chứa bên trong 05 túi nilon niêm phong trong bì giấy ghi đồ vật thu giữ của Trần Trung Q, gửi đến giám định có tổng khối lượng là: 6,421 gam; có chất ma túy, loại MDMB – BUNITINACA.
  • * MDMB – BUNITINACA la chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, số thứ tự 342, Nghị định sửa đổi, bổ sung danh mục chất ma túy và tiền chất, số 90/2024/NĐ - CP ngày 17/7/2024 của Chính phủ”.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, Trần Trung Q khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Ngoài ra, Q còn tự nguyện khai báo trước đó đã bán 02 túi ma túy thường gọi Tobaco, cùng loại ma túy, cùng đặc điểm với 06 túi ma túy trên cho Hán Thanh T, sinh năm 2005, trú tại khu H, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Cụ thể như sau:

Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 13/12/2024, Hán Thanh T, sinh năm 2005, trú tại khu H, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ sử dụng tài khoản Facebook “Hán Thanh T (Đang bận)” nhắn tin, gọi điện đến tài khoản facebook “Cu Binn (Kiều Thị Mỹ A)” của Q hỏi mua 02 gói ma túy Tobaco với giá 400.000đ. Q đồng ý và yêu cầu T chuyển khoản trước vào số tài khoản 884110490 Ngân hàng BIDV mang tên Trần Trung Q. Sau khi nhận được tiền, Q và T thống nhất địa điểm giao dịch ma túy tại khu H, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Khoảng 15 giờ cùng ngày, Q một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 19S1-285.33 của ông Trần Trung D, sinh năm 1972; HKTT: Khu B, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ (ông D là bố đẻ Q), đi đến điểm hẹn và giao 02 gói ma túy “Tobaco” cho T. Ngoài ra, Q không bán ma túy cho T lần nào khác.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã triệu tập Hán Thanh T đến làm việc. Tại cơ quan điều tra, T khai nhận khoảng 14 giờ 00 phút ngày 13/12/2024, T có truy cập ứng dụng Messenger của facebook hỏi mua của Q 02 gói ma túy Tobaco như lời khai của Q. Sau đó, Hán Thanh T đã đến cửa hàng điện thoại của anh Hà Trường G, sinh năm 2005; ở khu H, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ để đưa anh G 400.000đ, anh G đã dùng số tài khoản 0110198499999 mở tại Ngân hàng M của anh G chuyển 400.000đ vào số tài khoản 884110490 Ngân hàng BIDV mang tên Trần Trung Q. Số ma túy sau khi mua của Q, T đã một mình sử dụng hết. Chiếc điện thoại T sử dụng để đăng nhập tài khoản facebook “Hán Thanh T (Đang bận)” T đã đánh rơi sau đó, Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với Hán Thanh T qua mẫu nước tiểu thu của T. Kết quả giám định: tìm thấy MDMB - BUNITINACA và MDMB - INACA trong mẫu nước tiểu thu của T.

Nguồn gốc toàn bộ số ma tuý trên Trần Trung Q khai nhận: Khoảng đầu tháng 12 năm 2024, Q đã dùng một chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone Xsmax màu đen có gắn sim số 0347658263, điện thoại Q mượn của chị Kiều Thị Mỹ A, sinh năm 2003; HKTT: tổ dân phố số A, thị trấn P, huyện P, thành phố Hà Nội trước đó để đăng nhập tài khoản mạng xã hội facebook “Cu Binn (Kiều Thị Mỹ A)” của Q tham gia hội nhóm về ma túy. Q liên lạc được và đặt mua 1.000.000 đồng tiền ma túy Tobaco của một người không quen biết có tài khoản facebook là “Thế giới C”. Người này yêu cầu Q chuyển số tiền 1.100.000đ (trong đó 1.000.000đ là tiền ma túy, 100.000đ là phí vận chuyển ma túy bằng xe khách) đến số tài khoản 6868826112003 Ngân hàng M mang tên Nguyễn Văn T2, sinh năm 2003 ở số A ngõ G, Q, quận C, thành phố Hà Nội. Người này đã nhắn cho Q thông tin để đón xe khách lấy ma túy. Ma túy được đóng vào 01 hộp giấy kín bên ngoài ghi “shop quần áo gửi”. Sau đó, Q đón xe khách và nhận hộp ma túy tại khu vực ngã ba Hàng thuộc xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (Q không nhớ tên nhà xe và biển số xe). Nhận ma túy xong, Q mang về chỗ ở của Q tại tổ F, khu D, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ chia nhỏ thành 13 gói, trong đó 02 gói Q đã bán được cho H Thanh Tùng vào ngày 13/12/2024, số còn lại Q tàng trữ nhằm mục đích để bán.

Tại Cáo trạng số 07/CT - VKSLT ngày 26/02/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao đã truy tố Trần Trung Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, xác định Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như bản cáo trạng đã nêu là có căn cứ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Trung Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Trần Trung Q từ 30 đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 16/12/2024.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Đề nghị tịch thu, tiêu hủy: 01 túi giấy niêm phong dán kín, mã số PS3 2137019, tại mép dán của túi giấy niêm phong có 05 dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan bên trong có chứa tổng khối lượng 16,391 gam chất sợi thực vật màu vàng có chất ma túy, loại MDMB-BUTINACA; 01 (Một) túi vải màu nâu, có quai đeo bằng vải màu xanh-đỏ thu giữ của bị cáo Trần Trung Q; 01 (Một) sim số 0347658263 thu giữ của bị cáo Trần Trung Q.
  • - Buộc bị cáo phải giao nộp lại số tiền 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) do phạm tội mà có.
  • - Đề nghị trả lại cho: Chị Kiều Thị Mỹ A 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone Xsmax màu đen, số IMEI: 357269096514880, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
  • - Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại cho ông Trần Trung D: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, biển kiểm soát 19S1-285.33

Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a, khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo nói lời nói sau cùng:

Bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt cho những người tham gia tố tụng đúng thời hạn do pháp luật quy định nên các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
  2. [2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
  3. Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 13/12/2024, tại khu H, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ, Trần Trung Q đã có hành vi bán trái phép 02 gói chứa chất sợi thực vật màu vàng, có chất ma túy loại MDMB-4en-PINACA cho Hán T với giá 400.000 đồng (số ma túy này T đã sử dụng hết nên không xác định được khối lượng). Ngoài ra, Q còn có hành vi tàng trữ nhằm mục đích để bán cho người có nhu cầu với tổng khối lượng 16,391 gam chất sợi thực vật màu vàng có chất ma túy, loại MDMB-BUTINACA (trong đó khối lượng Q tàng trữ trên người khi bị lập biên bản sự việc là 9,970 gam, khối lượng tàng trữ tại chỗ ở là 6,421 gam). Toàn bộ số chất sợi thực vật màu vàng nêu trên đều do Trần Trung Q có được trong cùng một lần mua duy nhất.

    Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh một số tội phạm khác nhưng vì mục đích kiếm lời, bị cáo vẫn cố ý thực hiện nên hành vi của bị cáo đã bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

  4. [3] Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt cần xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
  5. Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tiền sự nhưng có hai tiền án chưa được xóa án tích.

    Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tự nguyện khai báo về hành vi bán ma túy cho H Thanh Tùng ngày 13/12/2024 khi chưa bị Cơ quan điều tra phát hiện để phục vụ việc điều tra, xác minh làm rõ vụ việc nên được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có ông ngoại là người có công với cách mạng và được tặng Bằng khen kháng chiến trong cuộc kháng chiến chống Mỹ nên bị cáo còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

    Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 19/2022/HSST ngày 27/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xử phạt Q 07 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” thời hạn tù tính từ ngày 29/3/2022. Bản án trên xét xử đối với hành vi phạm tội của Q xảy ra vào ngày 08/10/2021. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 11/2022/HSST ngày 23/3/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xử phạt Q 24 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Bản án trên xét xử đối với hành vi phạm tội của Q xảy ra ngày 26/5/2021. Do tại thời điểm xảy ra hành vi phạm tội vào ngày 08/10/2021, hành vi phạm tội ngày 26/5/2021 của Q chưa bị xét xử nên bản án hình sự sơ thẩm số 19/2022/HSST ngày 27/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh không xác định bản án hình sự sơ thẩm số 11/2022/HSST ngày 23/3/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ là “tái phạm” đối với Q. Q chấp hành chung hình phạt cho cả hai bản án trên và ra trại ngày 29/7/2024. Bản thân bị cáo bị kết án nhưng chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý do đó trong vụ án này bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng là “tái phạm”.

  6. [4] Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tuy nhiên bị cáo có hai tiền án về tội “Gây rối trật tự công cộng” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân để cải tạo thành công dân tốt mà lại tiếp tục phạm tội. Do đó, lần phạm tội này của bị cáo cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mới đảm bảo răn đe đối với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
  7. [5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Quá trình điều tra xác minh xác định bị cáo không có việc làm, không có thu nhập, không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
  8. [6] Về xử lý vật chứng:
    • - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh-đen, biển kiểm soát 19S1-285.33, giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên ông Trần Trung D (bố đẻ bị cáo Q), ông D không biết việc Q sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện khi mua bán trái phép chất ma túy do vậy ngày 07/02/2025 Cơ quan điều tra đã ra quyết định trả lại chiếc xe cho ông Trần Trung D là phù hợp.
    • - Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone Xsmax màu đen, số IMEI: 357269096514880 gắn sim số 0347658263, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Kết quả điều tra xác định, chiếc điện thoại trên là tài sản riêng của chị Kiều Thị Mỹ A cho Q mượn vào khoảng đầu tháng 11/2024 nhằm mục đích để liên lạc, chị A không biết Q sử dụng điện thoại vào việc mua bán ma túy nên cần trả lại tài sản trên cho chị A là phù hợp.
    • - Đối với sim số 0347658263, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai đây là sim số của bị cáo mua ở cửa hàng điện thoại và sim đã kích hoạt sẵn, bị cáo không nhớ thời gian mua và địa chỉ cửa hàng đã mua sim, bị cáo có sử dụng gói cước 4G của sim để truy cập ứng dụng Messenger thực hiện việc giao dịch mua bán ma túy. Đây là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
    • - Đối với 01 túi vải màu nâu, có quai đeo bằng vải màu xanh-đỏ là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
    • - Đối với 01 túi giấy niêm phong dán kín, mã số PS3 2137019, tại mép dán của túi giấy niêm phong có 05 dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan bên trong có chứa tổng khối lượng 16,391 gam chất sợi thực vật màu vàng có chất ma túy, loại MDMB-BUTINACA là vật nhà nước cấm lưu hành và vật chứng của vụ án không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
    • - Đối với số tiền 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) mà Trần Trung Q có được do bán ma túy cho Hán Thanh Tùng ngày 13/12/2024. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai đã tiêu xài cá nhân hết. Do đây là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu khoản tiền này để sung Ngân sách Nhà nước.
  9. [7] Đối với người đã bán ma túy cho Q vào khoảng đầu tháng 12/2024 qua mạng xã hội face book có tài khoản “Thế giới C”. Q khai sau khi mua được ma túy đã xóa hết thông tin liên hệ, giao dịch với tài khoản “Thế giới Chill”. Kết quả kiểm tra điện thoại thu giữ của Q qua ứng dụng Messenger của tài khoản facebook “Cu Binn (Kiều Thị Mỹ A)” không có tin nhắn, cuộc gọi thoại giao dịch giữa tài khoản facebook "Cu Binn (Kiều Thị Mỹ A)” với tài khoản facebook “Thế giới C”. Ngoài lời khai của Q không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh nên không có cơ sở để xác định tên, tuổi, địa chỉ người đã bán ma túy cho Q. Do đó, cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý là phù hợp.
  10. [8] Đối với anh Nguyễn Văn T2 chủ số tài khoản 6868826112003 là người đã nhận số tiền 1.100.000đ tiền mua ma túy từ Q. Theo lời khai của anh T2 thì anh được một người đàn ông không biết tên, tuổi địa chỉ nhờ nhận hộ số tiền trên mà không nói lý do, sau khi nhận được tiền vào tài khoản anh T2 đã chuyển lại cho người này bằng tiền mặt, người này nhận đủ tiền sau đó đã đi đâu anh T2 không biết, anh cũng không biết Trần Trung Q là ai và không có mối quan hệ gì với Q. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L không đề cập xử lý đối với anh T2 là phù hợp. Đối với người đàn ông đã nhờ anh T2 nhận hộ tiền tài khoản, ngoài lời khai của anh T2 không có căn cứ nào khác để xác định được tên, tuổi, địa chỉ của người đàn ông này nên không có căn cứ để xử lý là phù hợp.
  11. [9] Đối với xe khách đã vận chuyển ma túy gửi cho Q, Q không xác định được tên nhà xe và biển số xe. Ngoài lời khai của Q, không có căn cứ nào khác để xác định được xe khách đã vận chuyển ma túy cho Q. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L không có căn cứ để xử lý là phù hợp.
  12. [10] Đối với anh Hà Trường G người được Hán Thanh T nhờ chuyển tiền cho bị cáo Q để mua ma túy, anh G không biết việc T nhờ chuyển tiền để mua ma túy. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L không đề cập xử lý đối với anh G là phù hợp.
  13. [11] Đối với chiếc điện thoại di động Hán Thanh T sử dụng đăng nhập tài khoản Facebook “Hán Thanh T (Đang bận)” để liên hệ với tài khoản facebook “Cu Binn (Kiều Thị Mỹ A)” của Q hỏi mua ma túy nhưng T khai đã bị rơi mất, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện L không thu giữ được nên không đề cập xử lý là phù hợp.
  14. [12] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hán T, Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định số 144/NĐ - CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ xét thấy là phù hợp.
  15. [13] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã trình bày luận tội đối với bị cáo, đề nghị HĐXX kết tội bị cáo như Cáo trạng đã truy tố, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo. Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án và diễn biến, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và cũng phù hợp với các quy định của pháp luật vì vậy được chấp nhận.
  16. [14] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  17. [15] Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm a, b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a, b, c khoản 2, khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Trung Q phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Xử phạt: Bị cáo Trần Trung Q 32 (Ba mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 16/12/2024.

Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy:

  • - 01 túi giấy niêm phong dán kín, mã số PS3 2137019, tại mép dán của túi giấy niêm phong có 05 dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan bên trong có chứa tổng khối lượng 16,391 gam chất sợi thực vật màu vàng có chất ma túy, loại MDMB-BUTINACA.
  • - 01 (Một) túi vải màu nâu, có quai đeo bằng vải màu xanh-đỏ thu giữ của bị cáo Trần Trung Q.
  • - 01 (Một) sim số 0347658263 thu giữ của bị cáo Trần Trung Q.

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước:

  • - Số tiền 400.000₫ (Bốn trăm nghìn đồng) của bị cáo Trần Trung Q.

Trả lại cho:

  • - Chị Kiều Thị Mỹ A 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone Xsmax màu đen, số IMEI: 357269096514880, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
  • (Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/02/2025)

  • Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại cho ông Trần Trung D 01(một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh-đen, biển kiểm soát 19S1-285.33.
  • (Theo Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 11/02/2025)

Về án phí:

Bị cáo Trần Trung Q phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Chi cục THADS huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - UBND xã Thạch Sơn, Lâm Thao, Phú Thọ;
  • - UBND xã Thanh Đình, TP. Việt Trì, Phú Thọ;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Ngô Thị Hà Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HS-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO - TỈNH PHÚ THỌ về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 24/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO - TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger