TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIANG TỈNH HẢI DƯƠNG Bản án số: 24/2025/HS-ST Ngày: 24/3/2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Tố Uyên
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Hiên và bà Trần Thị Khanh
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mừng - Thư ký Toà án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Bùi Hoàng Hải và bà Phạm Thị H - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2025/HSST ngày 28 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐ-HSST ngày 10 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Phạm Văn H1, sinh năm 1989; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Nơi sinh và cư trú: Thôn L, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc NinhQuốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độc học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Phạm Văn H2, sinh năm 1955 và bà Cao Thị L, sinh năm 1960; có vợ là chị Trương Thị N, sinh năm 1989 (đã ly hôn), có 01 con, sinh năm 2012. Tiền án: Bản án số 22/2023/HSST ngày 28/11/2023, Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/5/2024 và các quyết định khác của bản án). Tiền sự: Không. Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 72/QĐ-XPHC ngày 10/7/2020, Công an huyện L, tỉnh Bắc Ninh xử phạt về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, hình thức phạt tiền. Bị cáo đã chấp hành xong ngày 31/7/2020. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/12/2024 đến ngày 04/01/2025 chuyển tạm giam. Hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, bị cáo có mặt tại phiên tòa;
2. Họ và tên: Võ Quang T, sinh năm 1979; Tên gọi khác: Không Giới tính: Nam. Nơi sinh và cư trú: thôn C, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Võ Quang P và bà Trần Thị V (đều đã chết), có vợ là chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1979, bị cáo có 01 con, sinh năm 1999.
Tiền án:
- - Bản án số 23/ST ngày ngày 27/10/2000, Tòa án nhân dân huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bản án số 06/HSPT ngày 01/3/2001, Tòa án nhân dân tỉnh Băc Ninh xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/01/2003 và phần án phí; Chưa chấp hành phần bồi thường dân sự).
- - Bản án số 07/HSST ngày 31/3/2004, Tòa án nhân dân huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 16 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bản án số 08/HSST ngày 26/5/2004, Tòa án nhân dân huyện Gia Bình xử phạt 05 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp với bản án số 07/HSST ngày 31/3/2004 của Tòa án nhân dân huyện Lương Tài xử phạt T 16 tháng tù. Buộc T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 06 năm 04 tháng tù (chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/10/2009, chưa chấp hành xong các quyết định khác của bản án).
- - Bản án số 43/2010/HSST ngày 30/9/2010, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/11/2017 và các quyết định khác của bản án).
- - Bản án số 18/2020/HSST ngày 25/6/2020, Tòa án nhân dân huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 27 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS (chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/4/2022 và các quyết định khác của bản án).
- - Bản án số 53/2023/HSST ngày 18/8/2023, Tòa án nhân dân huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng giá trị tài sản T đã trộm cắp là 1.829.000 đồng (chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/5/2024 và các quyết định khác của bản án).
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/01/2025 đến ngày 06/01/2025, chuyển tạm giam. Hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, bị cáo có mặt tại phiên tòa;
* Bị hại: Anh Nguyễn Đình L1, sinh ngày 14/6/2007. Người đại diện theo pháp luật của cháu L1: Ông Nguyễn Đình D, sinh năm 1976 (là bố đẻ của cháu L1). Đều địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện C, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt và có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1979. Thôn P, xã Q, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt và có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Đình V1, sinh năm 1990
- Anh Lê Thanh N1, sinh năm 1997
- Anh Đào Xuân H3, sinh năm 1995 đều ở thôn Đ, xã L, huyện C, tỉnh Hải Dương.
- Anh Vũ Xuân Đ, sinh năm 1973.
Đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Phạm Văn H1 và Võ Quang T là đối tượng nghiện ma tuý, không có việc làm ổn định, cùng thuê trọ tại thôn Đ, xã L, huyện C, tỉnh Hải Dương. Chiều ngày 28/12/2024, H1 điều khiển xe môtô BKS 99K1-369.47 của xe (chị Nguyễn Thị T1 là vợ T) chở T đi mua thuốc lá. Đến khoảng 17 giờ 45 phút cùng ngày, khi H1 và T về đến gần phòng trọ thì thấy 01 xe máy điện của anh Nguyễn Đình L1, sinh năm 2007, ở thôn Đ, xã L ở rìa đường. Quan sát xung quanh không có người nên H1 rủ T trộm cắp bán lấy tiền chi tiêu, T đồng ý. T ngồi trên xe mô tô cảnh giới, H1 đi đến và ngồi lên yên xe máy điện. T điều khiển xe môtô đi phía sau, dùng chân phải đẩy xe máy điện đi đến khu vực nghĩa trang G thuộc xã L, huyện L, tỉnh Bắc Ninh thì dừng lại. T lấy 01 tô vít 4 cạnh có sẵn trong cốp xe môtô đưa cho H1. T đứng cảnh giới, H1 dắt xe máy điện vào trong nghĩa trang, dùng tô vít tháo ổ khóa, rút dây điện, đấu nối 2 đầu dây điện với nhau thì xe bật được nguồn điện. H1 đưa T chiếc tô vít rồi điều khiển xe máy điện đi trước. T điều khiển xe môtô đi phía sau về hướng thị trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Khi phát hiện bị mất xe máy điện, anh L1 mở điện thoại để kiểm tra định vị, xác định xe đang ở khu vực gần Trung tâm G nên anh L1 nhờ các anh Nguyễn Đình V1, sinh năm 1990; Lê Thanh N1, sinh năm 1997 và Đào Xuân H3, sinh năm 1995 đều ở thôn Đ, xã L đi tìm xe. Khi đến khu vực trung tâm G thấy H1 đang điều khiển xe máy điện đi phía trước còn T điều khiển xe môtô đi phía sau. Khi H1 và T đi đến đoạn đường trước cổng Chi cục thuế huyện L thì nhóm của anh L1 yêu cầu H1 mang xe máy điện đến Công an thị trấn Thứa, huyện L để trình báo sự việc, T thấy bị phát hiện nên điều khiển xe môtô bỏ chạy. Quá trình làm việc, Công an thị trấn T quản lý của H1: 01 xe máy điện màu đen, không biển kiểm soát, phía sau đuôi gắn biển nhựa màu đen có chữ in nổi: M133; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J7 Prime, màu trắng.
Cũng ngày 28/12/2024, Công an thị trấn T bàn giao vụ việc cho Công an xã L, huyện C ngày 29/12/2024, Công an xã L chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan CSĐT Công an huyện C giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 03/01/2025, Võ Quang T đến Cơ quan CSĐT Công an huyện C đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội, tự nguyện giao nộp: 01 xe môtô BKS 99K1-369.47; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe môtô; 01 chiếc tô vít 4 cạnh, dài 20 cm, phần tay cầm bằng nhựa màu xanh; 01 áo khoác màu xám; 01 quần bò dài màu xanh; 01 mũ bảo hiểm màu xám.
- Kết luận định giá tài sản số 70/KL-HÐÐG-TTHS ngày 31/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện C, kết luận: Tại thời điểm bị thiệt hại, 01 xe máy điện đã qua sử dụng, có giá trị 6.500.000 đồng.
Ngày 29/12/2024, Công an xã L đã trả lại 01 xe máy điện cho anh Nguyễn Đình L1. Đối với 01 điện thoại di động Galaxy J7 Prime là tài sản hợp pháp của Phạm Văn H1, không liên quan đến hành vi phạm tội. Ngày 29/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã trả cho anh Phạm Văn H4 là người được H1 uỷ quyền quản lý.
Ngày 17/02/2025, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã trả 01 giấy chứng nhận đăng ký xe môtô BKS 99K1-369.47 cho chị Nguyễn Thị T1.
* Vật chứng của vụ án: 01 tô vít 4 cạnh; 01 mũ bảo hiểm; 01 áo khoác; 01 quần bò; 01 xe môtô BKS 99K1-369.47 hiện đang quản lý tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Giàng để xử lý trong giai đoạn xét xử và thi hành án. Đối với 01 đoạn video ghi lại hình ảnh Võ Quang T đi xe môtô phía sau đẩy xe máy điện cho Phạm Văn H1, hiện đang quản lý cùng hồ sơ vụ án.
* Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Đình L1 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường về dân sự nên trách nhiệm dân sự không đặt ra giải quyết.
Tại Cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 28/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Phạm Văn H1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự; bị cáo Võ Quang T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu tại bản cáo trạng là đúng. Bị hại và người đại diện theo pháp luật của bị hại vắng mặt và có đơn xin vắng mặt, xác nhận đã nhận lại tài sản do các bị cáo chiếm đoạt nguyên vẹn không bị hư hỏng nên không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Chị Nguyễn Thị T1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa và xác nhận chiếc xe mô tô môtô BKS 99K1-369.47 là tài sản riêng hợp pháp của chị, bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội chị không biết nên chị đề nghị được xin lại chiếc xe để làm phương tiện đi làm hàng ngày của chị.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn H1 và Võ Quang T phạm tội "Trộm cắp tài sản". Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Văn H1 từ 14 (Mười bốn) tháng đến 17 (Mười bẩy) tháng, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 29/12/2024; Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Võ Quang T từ 27 (Hai mươi bẩy) tháng đến 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 03/01/2025; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo; Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 tô vít 4 cạnh; 01 mũ bảo hiểm; 01 áo khoác; 01 quần bò; Trả lại chị Nguyễn Thị T1 01 xe môtô BKS 99K1-369.47; Quản lý lưu hồ sơ vụ án 01 đoạn video ghi lại hình ảnh Võ Quang T đi xe môtô phía sau đẩy xe máy điện cho Phạm Văn H1 do anh Trần Đình N2 giao nộp; Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Luật phí và lệ phí 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc mỗi bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để các bị cáo có cơ hội sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng, kết luận định giá tài sản, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 28/12/2024 tại đường thôn Đ, xã L, huyện C, tỉnh Hải Dương. Lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, Phạm Văn H1 và Võ Quang T đã lén lút chiếm đoạt của anh Nguyễn Đình L1 01 xe máy điện, có trị giá 6.500.000 đồng (Sáu triệu năm trăm ngàn đồng chẵn). Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của bị hại khi để chiếc xe máy điện dựng ở rìa đường, giữa ban ngày nhưng các bị cáo đã rủ nhau trộm cắp bán lấy tiền chi tiêu là sự coi thường pháp luật, gây tâm lý hoang mang cho mọi người dân, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh xã hội nói chung và địa bàn huyện C nói riêng. Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của anh L1 là vi phạm pháp luật nhưng do lười lao động, muốn có tiền một cách nhanh chóng để tiêu sài cho bản thân nên đã cố ý thực hiện. Xét hành vi các bị cáo thực hiện với giá trị tài sản chiếm đoạt, nhân thân của các bị cáo, xác định hành vi của bị cáo Võ Quang T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự, hành vi của bị cáo Phạm Văn H1 đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về vai trò của các bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều xác định trong vụ án này, Phạm Văn H1 là người khỏi xướng, thực hành tích cực nên giữ vai trò thứ nhất, bị cáo Võ Quang T đồng phạm với vai trò thứ hai.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết tăng nặng TNHS: Các bị cáo H1 và T đều đã bị Tòa án xét xử nên xác định bị cáo là người có nhân thân xấu. Mặt khác, các bị cáo đều đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này bị cáo H1 thuộc trường hợp “Tái phạm” theo qui định tại khoản 1 Điều 53 của Bộ luật hình sự và phải chịu tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự qui định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo T mặc dù thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” theo qui định tại điểm a khoản 2 Điều 53 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, xác định bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt nên không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo khai báo thành khẩn hành vi phạm tội; khi hành vi trộm cắp tài sản bị phát hiện bị cáo T đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện C đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội; đồng thời người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình hình an ninh trật tự trên địa bàn huyện C, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, nhân thân của từng bị cáo. Hội đồng xét xử, thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương xứng hành vi các bị cáo đã thực hiện, mới đủ tác dụng giáo dục riêng các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có tài sản riêng, hiện đang tạm giam nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Đình L1, sinh ngày 14/6/2007 và người đại diện theo pháp luật của anh L1 là ông Nguyễn Đình D, sinh năm 1976 đều xác nhận đã nhận lại chiếc xe máy điện vào ngày 29/12/2024 nguyên vẹn không bị hư hỏng gì do Công an xã L giao trả, bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì nên HĐXX không đặt ra giải quyết.
[8] Về vật chứng:
- - Đối với 01 tô vít 4 cạnh; 01 mũ bảo hiểm; 01 áo khoác; 01 quần bò các bị cáo đã sử dụng làm trang thiết bị và phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị nên HĐXX cần tịch tiêu huỷ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- - Đối với 01 xe môtô BKS 99K1-369.47 hiện đang quản lý tại kho vật chúng Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Giàng. Tuy nhiên, HĐXX xác định là tài sản hợp pháp riêng của chị T1, bị cáo T đã tự ý lấy xe đi và sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội chị T1 không biết nên cần trả lại chị T1 chiếc xe môtô BKS 99K1-369.47 theo qui định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- - Đối với 01 đoạn video ghi lại hình ảnh Võ Quang T đi xe môtô phía sau đẩy xe máy điện cho Phạm Văn H1, cần được quản lý cùng hồ sơ vụ án.
[9] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[10] Những vấn đề khác:
- - Ngày 29/12/2024, Công an xã L đã trả lại 01 xe máy điện cho anh Nguyễn Đình L1. Đối với 01 điện thoại di động Galaxy J7 Prime là tài sản hợp pháp của Phạm Văn H1, không liên quan đến hành vi phạm tội. Ngày 29/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã trả cho anh Phạm Văn H4 là người được H1 uỷ quyền nhận và quản lý.
- - Ngày 17/02/2025, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã trả 01 giấy chứng nhận đăng ký xe môtô BKS 99K1-369.47 cho chị Nguyễn Thị T1.
- - Đối với việc chị Nguyễn Thị T1 cho bị cáo T mượn xe môtô nhưng không biết T sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản nên không đặt ra xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 53; Điều 17; Điều 58 của của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Văn H1;
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm b khoản 2 Điều 53; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Võ Quang T;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 và Nghị quy ết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội đối với bị cáo H1, T.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H1 và Võ Quang T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
- - Xử phạt bị cáo Phạm Văn H1 10 (Mười) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 29/12/2024.
- - Xử phạt bị cáo Võ Quang T. 02 (Hai) năm 04 (Bốn) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 03/01/2025.
3. Về xử lý vật chứng:
- - Trả lại chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1979. Thôn P, xã Q, huyện G, tỉnh Bắc Ninh chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xanh đen BKS 99K1-369.47, đã qua sử dụng;
- - Tịch thu tiêu hủy 01 thùng bìa catton bên trong thùng bia có 01 mũ bảo hiểm màu xám, 01 quần bò màu xanh; 01 áo khoác màu xám; 01 tô vít 4 cạnh nguyên niêm phong có tên và chữ ký của những người liên quan (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Hải Dương và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương ngày 28/02/2025).
- - Lưu 01 đoạn video ghi lại hình ảnh Võ Quang T đi xe môtô phía sau đẩy xe máy điện cho Phạm Văn H1 tại hồ sơ vụ án.
4. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo (H1, T) phải chịu 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/3/2025); Bị hại và người đại diện theo pháp luật của bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo phần liên quan của bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Trương Thị Tố Uyên |
Bản án số 24/2025/HS-ST ngày 24/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 24/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Hà, Võ Quang Tuấn
