TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 21/03/2025
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Bùi Thị Vân
Ông Hoàng Ngọc Thành
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Luyện - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Thanh Hà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà tham gia phiên
toà: Bà Nguyễn Thị Ngân- Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 334/2024/TLST-HNGĐ ngày 21/11/2024 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/2/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị N, sinh năm 1984
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.
- Bị đơn: Anh Lê Xuân H, sinh năm 1983
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.
- Người làm chứng:
+ Anh Lê Xuân M, sinh năm 2005; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.
+ Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1955; địa chỉ: A, xã T, T, Hải Dương.
(Tại phiên tòa chị N, anh H và những người làm chứng đều vắng mặt nhưng trước đó họ đã có đơn hoặc ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn và lời khai của nguyên đơn thể hiện: Chị N và anh H kết hôn ngày 29/12/2004 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng bất đồng về tính cách, lối sống nên thường xuyên cãi nhau. Vợ chồng chị đã sống ly thân từ lâu, không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định không còn tình cảm gì với anh H nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị ly hôn với anh H.
Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là Lê Xuân M, sinh ngày 10/9/2005 và Lê Xuân M1, sinh ngày 29/11/2007. Do con M đã thành niên và hoàn toàn khỏe mạnh nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với con M. Con M1 có nguyện vọng xin ở với bố nên chị tôn trọng ý kiến của con. Chị đồng ý cấp dưỡng nuôi con Mừng mức 2 triệu đồng/1 tháng theo đề nghị của anh H. Hiện chị làm công nhân, thu nhập trung bình là 6 triệu đồng/tháng.
Về tài sản, công sức, nợ chung: Vợ chồng chị tự thỏa thuận, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, TAND huyện Thanh Hà đã nhiều lần triệu tập và tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định pháp luật nhưng bị đơn không đến Tòa án làm việc. Tuy nhiên, tại văn bản đề ngày 02/3/2025 của anh H gửi đến Tòa án, anh H trình bày ý kiến: Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên nhờ Tòa án giải quyết ly hôn cho anh chị. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn, anh xin được nuôi con Mừng và yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con mức 2 triệu đồng/tháng.
* Cháu Lê Xuân M1 ý kiến: Nếu bố mẹ cháu ly hôn, cháu xin ở với bố.
* Lời khai của người làm chứng là bà Nguyễn Thị D, anh Lê Xuân M cũng như kết quả xác minh tại địa phương thể hiện: Trong thời gian chung sống, vợ chồng chị N, anh H nảy sinh nhiều mâu thuẫn, đã sống ly thân từ lâu, không ai quan tâm đến ai.
Vụ án không tiến hành hòa giải được do nguyên đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, đồng thời các đương sự đều vắng mặt tại phiên họp hòa giải.
Tại phiên tòa sơ thẩm: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt.
Đại diện VKSND huyện Thanh Hà phát biểu ý kiến: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử (viết tắt: HĐXX) và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227, 228, 229,147 của Bộ luật tố tụng dân sự: Về quan hệ hôn nhân, xử chị N ly hôn với anh H. Về con chung: Giao con chung là Lê Xuân M1, sinh ngày 29/11/2007 cho anh H nuôi dưỡng; chị N có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con Mừng mức 2 triệu đồng/tháng, kể từ tháng 3/2025 đến khi con chung thành niên. Chị N được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn, người làm chứng vắng mặt nhưng trước đó đã đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt họ. Vì vậy, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, người làm chứng theo quy định tại Điều 227, 228, 229 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị N, anh H có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương trên cơ sở tự nguyện nên là hôn nhân hợp pháp. Căn cứ lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy: Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị N, anh H đã nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng có nhiều bất đồng về quan điểm sống dẫn đến thường xuyên xô xát, cãi nhau. Thực tế vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ lâu, không ai quan tâm đến ai. Nay chị N xin ly hôn, anh H cũng xác định cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên đề nghị Tòa giải quyết ly hôn cho vợ chồng anh. Như vậy mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử chị N ly hôn anh H là phù hợp với quy định của Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3]. Về quan hệ con chung: Vợ chồng chị N, anh H có 02 con chung là Lê Xuân M, sinh ngày 10/9/2005 và Lê Xuân M1, sinh ngày 29/11/2007. Do cháu M đã thành niên và hoàn toàn khỏe mạnh, có khả năng lao động nên Tòa án không xem xét giải quyết đối với cháu M. Đối với cháu M1, xét anh H xin nuôi con Mừng, chị N nhất trí giao con Mừng cho anh H nuôi dưỡng, cháu M1 cũng có nguyện vọng muốn được ở với bố. Vì vậy cần giao cháu M1 cho anh H nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật cũng như phù hợp với ý chí của các bên đương sự và nguyện vọng của con chung.
Anh H yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con Mừng mức 2 triệu đồng/tháng, chị N nhất trí cấp dưỡng theo mức anh H đề xuất. Xét thấy đây là ý chí tự nguyện của các đương sự, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4]. Về tài sản, công sức, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy HĐXX không xem xét.
[5]. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227, Điều 228, Điều 229, Điều 147, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử chị Phạm Thị N ly hôn anh Lê Xuân H.
2. Về con chung: Giao con chung là Lê Xuân M1, sinh ngày 29/11/2007 cho anh Lê Xuân H trực tiếp nuôi dưỡng, chị Phạm Thị N có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con Mừng mức 2.000.000đ (hai triệu đồng)/tháng, kể từ tháng 03/2025 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi).
Chị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành không thi hành số tiền trên, thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Về án phí: Chị Phạm Thị N phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm ly hôn và 300.000đ tiền cấp dưỡng nuôi con. Đối trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006004 ngày 20/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, chị N còn phải nộp 300.000đ tiền án phí.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hánh án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Nhung |
Bản án số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 24/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Ng ly hôn anh H
