Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

Bản án số: 24/2025/HS-ST

Ngày: 21/3/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thúy Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Hạnh
Bà Ngô Thị Thơm

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hồng Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:

ông Phạm Văn Vững - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

1. Phạm Thanh T, sinh ngày 08/04/1997; nơi sinh: Thành phố H, tỉnh Hải Dương; nơi đăng ký thường trú và cư trú: Số A A, phường Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn H (đã chết) và con bà Vũ Thị B (đã chết); gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam ngày 03/12/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 172/QĐ-XPHC ngày 20/01/2025 của Ủy ban nhân dân thành phố H đối với hành vi Mang theo trong người hoặc tàng trữ, cất giấu các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc các loại công cụ, phương tiện khác có khả năng sát thương nhằm mục đích gây thương tích cho người khác; Tàng trữ súng săn hoặc chi tiết, cụm súng săn. Tổng mức phạt tiền 19.000.000đồng. Có mặt.

2. Trần Hữu T1, sinh ngày 15/12/1998; nơi sinh: Thành phố H, tỉnh Hải Dương; Nơi đăng ký thường trú và cư trú: Số C Đ, Khu A, phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương; Nơi ở: Số E đường H, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Trần Hữu T2 (đã chết) và con bà Vũ Thị H1, sinh năm 1973; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; có vợ và 01 con sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam ngày 12/7/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 4555/QĐ-XPHC ngày 27/11/2024 của Ủy ban nhân dân thành phố H đối với hành vi Mang theo trong người hoặc tàng trữ, cất giấu các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc các loại công cụ, phương tiện khác có khả năng sát thương nhằm mục đích gây thương tích cho người khác; Tàng trữ súng săn hoặc chi tiết, cụm súng săn. Tổng mức phạt tiền 19.000.000đồng. Có mặt.

3. Phạm Mạnh T4, sinh ngày 10/11/1994; nơi sinh: Thành phố H, tỉnh Hải Dương; nơi đăng ký thường trú: số A A, phường Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương; nơi ở hiện tại: Số A A, phường Q, thành phố H, tỉnh Hải Dương; giới tính: nam; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn S và con bà Nguyễn Thị T3; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; bị cáo có vợ và 01 con sinh 2023; tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giam ngày 12/7/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 4554/QĐ-XPHC ngày 27/11/2024 của Ủy ban nhân dân thành phố H đối với hành vi Mang theo trong người hoặc tàng trữ, cất giấu các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc các loại công cụ, phương tiện khác có khả năng sát thương nhằm mục đích gây thương tích cho người khác; Tàng trữ súng săn hoặc chi tiết, cụm súng săn. Tổng mức phạt tiền 19.000.000đồng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong thời gian làm việc ở Lào Cai vào năm 2021, Phạm Thanh T được một người đàn ông không rõ lai lịch cho một khẩu súng và 23 viên đạn. T còn mua 01 thanh kiếm, 02 thanh đao, 04 con dao bầu mang về nhà cất giấu. Khoảng tháng 01/2024, Phạm Thanh T gọi điện cho Phạm Mạnh T4 nhờ cất giữ hộ túi đồ, T4 hỏi đồ gì thì T nói “đồ để đi đánh nhau”. T4 đồng ý và bảo T mang lên phòng thờ ở tầng 5 nhà T4, ở số A A, phường Q, thành phố H. Sau đó, T mang 02 chiếc túi đựng vợt cầu lông và túi đựng cần câu cá bên trong chứa đao, kiếm và 01 khẩu súng, đạn cất giấu trong phòng thờ tầng 5 nhà Mạnh Tuấn. Vài ngày sau, Mạnh T4 mở 02 túi này ra thấy bên trong có 01 khẩu súng, đao, kiếm và dao bầu. Khoảng cuối tháng 5/2024, Mạnh T4 gọi điện bảo T mang súng và các hung khí gửi chỗ khác. Tối cùng ngày, T gọi điện bảo Trần Hữu T1 cho gửi súng và nhờ Hữu T1 đến nhà Mạnh T4 lấy 02 chiếc túi chứa súng và các hung khí nói trên mang về nhà của Hữu T1 thuê ở số E Hồ N, phường N, thành phố H cất giấu. Đầu tháng 6/2024, Hữu T1 đi về quê vợ ở Lai Châu nên đã gọi điện bảo T mang súng và các hung khí gửi chỗ khác. T gọi điện nhờ Mạnh T4 cho gửi súng và các hung khí. Mạnh T4 đồng ý. Sau đó, T gọi điện bảo Hữu T1 mang các đồ trên đến nhà Mạnh T4 gửi. Hữu T1 đã mang 02 túi chứa khẩu súng và các hung khí đến nhà Mạnh T4. Khoảng 22 giờ 50 phút ngày 06/7/2024, T gọi điện bảo Hữu T1 mang súng đến quán bar R ở số H P, phường T, thành phố H cho T. Hữu T1 đã gọi điện cho Mạnh T4 để đến lấy túi đựng khẩu súng, đao, kiếm và dao bầu. Hữu T1 đi xe máy biển số 25F4 – 8289 đến nhà Mạnh T4. Mạnh T4 mang 02 chiếc túi đựng khẩu súng, đao, kiếm và dao bầu ra đầu ngõ (số I A, phường Q) đưa cho Hữu T1. Do sợ bị phát hiện, Hữu T1 để lại xe máy biển số 25F4 – 8289 ở nhà Mạnh Tuấn và gọi xe ô tô taxi biển số 34A – 000.88 của hãng Tân Trường S1 do anh Vũ Đình P, sinh năm 1992, ở số A P, phường C, thành phố H điều khiển chở Hữu T1 cùng 02 túi đựng các đồ vật trên đi đến quán bar R. Trên đường đi, Hữu T1 gọi điện rủ anh Phạm Tùng L đến quán bar C (không nói rõ việc gì). Khi đi đến khu vực trước cửa quán bar R, Hữu T1 xuống xe, cầm 02 chiếc túi đựng súng và các hung khí đi bộ đến khu vực vỉa hè trước cửa nhà A H, phường T, thành phố H (đối diện quán bar R). Một lúc sau, L đi xe taxi đến ngồi chơi cùng Hữu Tuấn, thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H phát hiện bắt thu giữ 02 chiếc túi đựng vợt cầu lông và túi đựng cần câu cá bên trong có: 01 thanh kiếm dài khoảng dài 80,7cm; 01 thanh đao dài 63cm, 01 thanh đao dài 56,5cm; 04 con dao bầu, mỗi con dài khoảng 32cm; 01 khẩu súng bắn đạn ghém cỡ 12 và 23 viên đạn dạng đạn hoa cải hình trụ tròn đường kính 2cm, dài khoảng 6cm, đáy đạn bằng kim loại màu vàng, đầu đạn bịt kín (trong đó 08 viên đạn thân bằng nhựa màu xanh và 15 viên đạn thân bằng nhựa màu trắng). Sau đáo, Phạm Thanh T bỏ trốn, Ngày 03/12/2024, T đến Cơ quan An Ninh điều tra Công an tỉnh H đầu thú.

Ngày 07/7/2024, bị can Trần Hữu T1 tự giao nộp cho Cơ quan An ninh điều tra 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 màu xanh, gắn 01 sim số 0702.344.953. Ngày 12/7/2024, bị can Phạm Mạnh T4 tự giao nộp cho Cơ quan An ninh điều tra 01 chiếc điện thoại di động Iphone 14 Pro Max, gắn 01 sim số 0837.030.000.

- Kết luận giám định số 6183 ngày 06/9/2024 của V Bộ C1 đối với hai chiếc điện thoại trên:

Trong mẫu vật gửi giám định ký hiệu A1 tìm thấy 1451 lịch sử cuộc gọi, 362 tin nhắn (SMS, MMS, I), 921 tin nhắn Zalo, 09 tin nhắn Facebook Messenger, 6806 tập tin hình ảnh, 40 tập tin âm thanh, 55 tập tin video. Chi tiết có trong thư mục A1 trong USB.

Trong mẫu vật gửi giám định ký hiệu A2 tìm thấy 1832 lịch sử cuộc gọi, 1052 tin nhắn (SMS, MMS, I), 22316 tin nhắn Facebook Messenger, 17325 tin nhắn Zalo, 164 tin nhắn WhatsAPP, 148 tin nhắn TikTokk, 30063 tập tin hình ảnh, 198 tập tin âm thanh, 295 tập tin video. Chi tiết có trong thư mục A2 trong USB kèm theo.

- Công văn số 2453 ngày 23/8/2024 và Kết luận giám định số 5188 ngày 10/7/2024 của V Bộ C1: Khẩu súng gửi giám định là súng bắn đạn ghém cỡ 12, thuộc vũ khí quân dụng. Hiện tại, khẩu súng còn sử dụng bắn được. 23 viên đạn hình trụ, có cùng chiều dài 5,9cm, đường kính 20,5mm, là loại đạn ghém cỡ 12, thuộc súng săn, không phải vũ khí quân dụng. 01 thanh kiếm dài 80,7cm và 02 thanh đao dài lần lượt 63cm và 56,5cm gửi giám định thuộc vũ khí thô sơ. 04 dao bầu cùng có chiều dài 32cm gửi giám định không thuộc danh mục vũ khí.

Tại Cáo trạng số 02/CT-VKS-P2 ngày 13/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Phạm Thanh T, Trần Hữu T1 và Phạm Mạnh T4 về tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Các bị cáo khẳng định quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo đều tự nguyện khai nhận hành vi của mình, không bị ai ép buộc phải khai nội dung gì không đúng diễn biến sự việc, hành vi mà các bị cáo đã thực hiện. Nội dung sự việc và hành vi các bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm khoản 1 Điều 304 của Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Luật phí, lệ phí. Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Thanh T. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phạm Thanh T, Phạm Mạnh T4 và Trần Hữu T1 phạm tội "Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng". Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Phạm Thanh T từ 30 đến 36 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 03/12/2024. Xử phạt bị cáo Trần Hữu T1 từ 24 đến 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 12/7/2024. Xử phạt bị cáo Phạm Mạnh T4 từ 24 đến 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 12/7/2024. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, phát mại sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 14 Pro Max, 01 điện thoại di động Iphone 11. Đề nghị Đơn vị cung cấp dịch vụ viễn thông thu hồi thuê bao điện thoại số 0702.344.xxx và số 0837.030.000 theo quy định của pháp luật về viễn thông. Tịch thu, cho tiêu hủy súng bắn đạn ghém cỡ 12; 02 sim điện thoại. Về án phí: Buộc bị cáo cáo Phạm Thanh T, Phạm Mạnh T4 và Trần Hữu T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo đã nhận thấy hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng là vi phạm pháp luật, rất ân hận về hành vi của mình. Các bị cáo không bị oan. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt mức án thấp nhất để các bị cáo sớm được về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan điều tra, truy tố trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với Biên bản vụ việc, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định, biên bản nhận dạng, lời khai những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng tháng 01/2024, Phạm Thanh T mang 02 chiếc túi đựng cần câu cá và túi đựng vợt cầu lông bên trong chứa 01 khẩu súng bắn đạn ghém cỡ 12, thuộc vũ khí quân dụng và 23 viên đạn ghém cỡ 12, thuộc súng săn; 01 thanh kiếm dài 80,7cm, 01 thanh đao dài 63cm, 01 thanh đao dài 56,5cm, thuộc vũ khí thô sơ và 04 con dao bầu dài 32cm đến nhà của Phạm Mạnh T4, ở số A A, phường Q, thành phố H nhờ Mạnh Tuấn cất giấu. Từ tháng 01/2024 đến tháng 6/2024, tại nhà ở của Phạm Mạnh T4 và từ cuối tháng 5/2024 đến ngày 06/7/2024, tại nhà thuê trọ của Trần Hữu T1, ở số E Hồ N, phường N, thành phố H, Phạm Thanh T, Phạm Mạnh T4 và Trần Hữu T1 đã có hành vi cất giấu 01 khẩu súng, 23 viên đạn và các hung khí trên. Đến khoảng 23 giờ 30 phút ngày 06/7/2024, khi Trần Hữu T1 mang 01 khẩu súng, 23 đạn và các hung khí trên đến khu vực trước cửa nhà số A H, phường T, thành phố H thì Cơ quan điều tra Công an thành phố H phát hiện và thu giữ vật chứng.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý vũ khí quân dụng của nhà nước, gây mất an ninh trật tự, trị an và mang lại nhiều nguy cơ mất an toàn trong xã hội. Các bị cáo đều là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ súng bắn đạn ghém cỡ 12 là vũ khí quân dụng, bản thân các bị cáo không có thẩm quyền tàng trữ, sử dụng vũ khí quân dụng nhưng các bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Do đó, hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

[3]. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều lần đầu phạm tội và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, cả 03 bị cáo đều đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Phạm Thanh T sau khi phạm tội đã đến cơ quan Công an đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[4.] Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Phạm Thanh T là chủ sở hữu khẩu súng. T nhờ Mạnh T4, Hữu T1 cất giấu hộ nên T có vai trò chính trong vụ án. Phạm Mạnh T4 và Trần Hữu T1 cùng cất giấu súng giúp cho T nên có vai trò sau bị cáo T và có vai trò ngang nhau.

[5]. Xét tính chất hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò của từng bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo hiện không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7]. Về vật chứng:

[7.1]. Đối với 01 điện thoại di động Iphone 14 Pro Max số IMEI 1: 353885662424115 và IMEI2: 353885662603445 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Iphone 11, số IMEI 1: 353978106984099 và IMEI 2: 353978106960362, đã qua sử dụng. Các bị cáo Mạnh T4 và Hữu T1 sử dụng 02 chiếc điện thoại trên để liên lạc trao đổi với nhau phục vụ việc tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng nên cần tịch thu, phát mại sung ngân sách Nhà nước. 02 sim điện thoại không còn giá trị sử dụng cần tịch thu cho tiêu hủy.

[7.2]. Đề nghị Đơn vị cung cấp dịch vụ viễn thông thu hồi thuê bao điện thoại số 0702.344.xxx và số 0837.030.000 theo quy định của pháp luật về viễn thông.

[7.3]. Đối với 01 (một) súng bắn đạn ghém SAVAGE MODEL 69R cỡ 12 (được niêm phong trong một túi đựng cần câu cá) là vật chứng trong vụ án thuộc vũ khí quân dụng hiện đang được bảo quản tại kho thuộc Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hải Dương cần tịch thu và giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H xử lý theo quy định của pháp luật.

[7.4]. Đối với các cật chứng gồm: 23 viên đạn đã được sử dụng bắn thực nghiệm và tiêu hao hết trong quá trình giám định; 01 thanh kiếm dài 80,7cm; 02 thanh đao dài lần lượt là 63cm và 56,5cm; 04 con dao bầu cùng có chiều dài 32cm đã được tiêu hủy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 4555/QĐ-XPHC ngày 27/11/2024 của Ủy ban nhân dân thành phố H đối với Nguyễn Hữu T5. Do đó, Hội đồng xét xử không giải quyết trong vụ án này.

[7.5]. Đối với chiếc xe mô tô biển số 25F4 – 8289 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị Tạ Thị K cho con gái là Phạm Thị L1 (vợ bị cáo Trần Hữu T1) mượn. Bị cáo Trần Hữu T1 không sử dụng chiếc xe mô tô trên vào việc phạm tội, chị K và chị L1 không biết hành vi phạm tội của bị cáo Hữu T1. Ngày 09/11/2024, Cơ quan An ninh điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị Tạ Thị K là phù hợp. Chị K xác định đã nhận lại chiếc xe, không có yêu cầu, đề nghị gì nên không xác định chị có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án này.

[8]. Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[9]. Về các vấn đề khác:

[9.1]. Đối với Phạm Mạnh T4 và Trần Hữu T1 có hành vi tàng trữ trái phép 23 viên đạn ghém, 04 con dao bầu dài 32cm, 01 thanh kiếm dài 80,7cm, 01 thanh đao dài 63cm, 01 thanh đao dài 56,5cm. Các bị cáo đã bị Ủy ban nhân dân thành phố H xử phạt hành chính là phù hợp. (Các bị cáo đã thi hành xong)

[9.2]. Đối với những người trong gia đình bị cáo Phạm Thanh T, Phạm Mạnh T4 và Trần Hữu T1 (bố, mẹ, vợ, em ruột) và anh Phạm Tùng L, sinh năm 1998, ở 4 N, phường N, thành phố H được bị cáo Trần Hữu T1 rủ đi chơi cùng; không biết Phạm Thanh T, Phạm Mạnh T4 và Trần Hữu T1 cất giấu tàng trữ súng, đạn và các hung khí nên không có căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1]. Căn cứ khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Các Điều 63, 64, 69, 70 Luật quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đối với các bị cáo Phạm Thanh T, Nguyễn Hữu T5, Nguyễn Mạnh T6. Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo Phạm Thanh T.

[2]. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phạm Thanh T, Phạm Mạnh T4 và Trần Hữu T1 phạm tội "Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng".

[3]. Về hình phạt chính:

[3.1]. Xử phạt bị cáo Phạm Thanh T 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 03/12/2024.

[3.2]. Xử phạt bị cáo Trần Hữu T1 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 12/7/2024.

[3.3]. Xử phạt bị cáo Phạm Mạnh T4 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 12/7/2024.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

[5]. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, phát mại sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 14 Pro Max số IMEI 1: 353885662424115 và IMEI2: 353885662603445 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Iphone 11, số IMEI 1: 353978106984099 và IMEI 2: 353978106960362, đã qua sử dụng.

- Tịch thu cho tiêu hủy 02 sim điện thoại.

- Đề nghị đơn vị cung cấp dịch vụ viễn thông thu hồi thuê bao điện thoại số 0702.344.xxx và số 0837.030.000 theo quy định của pháp luật về viễn thông.

- Tịch thu và giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H tiếp tục quản lý và xử lý theo quy định của pháp luật đối với 01 (một) súng bắn đạn ghém SAVAGE MODEL 69R cỡ 12 được niêm phong trong một túi đựng cần câu cá.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng nêu trên theo Biên bản giao nhận tài sản, vật chứng giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh H và Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh H ngày 22/07/2024; Công an tỉnh H và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương ngày 04/12/2024).

[6]. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Thanh T, Phạm Mạnh T4 và Trần Hữu T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[7]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Vụ GĐKT I- TANDTC;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Hải Dương;
  • - Cơ quan ANĐT - CA tỉnh Hải Dương;
  • - Phòng HSNV- CA tỉnh Hải Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - Sở TP tỉnh Hải Dương;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu Tòa; Lưu HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng

  • Số bản án: 24/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thanh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger