|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 24/HSST Ngày 19/3/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Bá Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đắc Sửu; Ông Nguyễn Văn Hiền.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Thoả. Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trà - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025. Tại: Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2025/HSST, ngày 04 tháng 3 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/QĐXXST-HS, ngày 06/3/2025, đối với:
1. Bị cáo: Đồng Thị D, sinh ngày 30/11/2000. Nơi cư trú: Thôn H, xã Đ, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; Con ông: Đồng Minh T và bà Hà Thị L; Chồng: Chưa có; Con: Có 01 con, sinh năm 2020; Tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 30/7/2018 bị Công an thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” với số tiền 500.000 đồng.
Ngày 05/10/2018, bị Toà án nhân dân thị xã Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong hình phạt.
Ngày 26/10/2018, bị Toà án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong hình phạt.
Tiền án: Ngày 16/8/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Ngày 20/9/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 13 tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung của hai bản án là 20 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt ngày 16/8/2024.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/01/2025 đến ngày 06/02/2025. Hiện đang được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.
2. Bị hại: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1963. Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm như sau:
Đồng Thị D và anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1998, trú tại thôn S, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An có mối quan hệ yêu đương với nhau. D thường về nhà bố đẻ của S là ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1962 trú tại thôn S, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An chơi. Quá trình về chơi tại nhà ông Đ, D biết trong nhà ông Đ có cất giữ vàng. Đến sáng 18/01/2025 D bắt xe về nhà ông Đ. Trong lúc vợ chồng ông định không ở nhà nên D có ý định trộm cắp vàng để lấy tiền tiêu xài. Sau đó, D mở sập đựng lúa ở giữa nhà (sập không khoá) và phát hiện bên trong túi bóng màu đỏ có tiền và vàng nên D đã lấy một cái “Kiềng” đeo cổ bằng vàng, 05 nhẫn tròn bằng vàng và 10 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, còn số tiền còn lại và hộp hình tròn màu đỏ D để lại túi bóng cất vào vị trí ban đầu rồi đóng cửa sập lại. Sau đó, D cất số vàng và tiền mặt vừa lấy trộm được vào túi xách của mình. Đến khoảng 15 giờ ngày 19/01/2025, D cầm theo số tiền và vàng trộm được về phòng trọ tại thành phố V. Đến khoảng 19 giờ 30 phút ngày 19/01/2025, D đến tiệm V, địa chỉ đường N, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An, do Lê Hoàng K (sinh năm 1985 làm chủ) bán số vàng lấy trộm được nói trên với số tiền 36.900.000 đồng, số vàng này anh K đã bán lại cho khách nên không thu hồi được; toàn bộ số tiền chiếm đoạt D đã tiêu xài cá nhân hết.
Đến ngày 26/01/2025, ông Đ kiểm tra tài sản và phát hiện bị kẻ gian lấy trộm. Ngày 27/01/2025, ông Đ đến Cơ quan CSĐT Công an huyện T.
Ngày 28/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an huyện T tiến hành triệu tập Đồng Thị D lên làm việc. Tại Cơ quan điều tra Đồng Thị D đã tự nguyện xin đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Ngày 31/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Yêu cầu định giá tài sản đối với 01 kiềng bằng vàng loại 02 chỉ; 05 nhẫn tròn bằng vàng, mỗi nhẫn 0,5 chỉ. Tại Kết luận định giá tài sản số: 05/KL-ĐG ngày 04/02/2025 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: “Tổng giá trị của 02 loại vật nói trên (4,5 chỉ vàng 9999) là 37.150.000 đồng (ba mươi bảy triệu, một trăm năm mươi ngàn đồng)”.
Về vật chứng: Trong quá trình điều tra thu giữ 01 túi bóng màu đỏ rộng 25 cm; 01 hộp trang sức hình tròn màu đỏ, đường kính 19 cm, bên ngoài bọc nhung bên trên nắp hộp có dòng chữ “ MAI LINH, vàng bạc, nội thất, đá phong thuỷ”. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Công an huyện T để phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử.
Người bị hại ông Nguyễn Văn Đ trình bày: Ngày 18/01/2025 ông bị mất trộm 4.5 chỉ vàng 9999 và 5.000.000 đồng tiền mặt. Ông Đ yêu cầu bị cáo Đồng Thị D bồi thường tổng số tiền 42.150.000 đồng. Hiện bị cáo chưa bồi thường được khoản nào.
Tại bản Cáo trạng số 34/CT-VKS-TC, ngày 28/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương đã truy tố Đồng Thị D, về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Đồng Thị D, từ 03 năm 03 tháng tù đến 03 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho người bị hại 4.5 chỉ vàng (giá quy đổi tại thời điểm bị cáo phạm tội theo kết luận định giá số 05/KL-ĐG ngày 04/02/2025 của hội đồng định giá tài sản là 37.150.000 đồng) và 5.000.000 đồng tiền mặt. Tổng cộng buộc bị cáo bồi thường cho người bị hại số tiền 42.150.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 túi bóng màu đỏ rộng 25 cm; 01 hộp trang sức hình tròn màu đỏ, đường kính 19 cm, bên ngoài bọc nhung bên trên nắp hộp có dòng chữ “ MAI LINH, vàng bạc, nội thất, đá phong thuỷ” không còn giá trị sử dụng.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Đồng Thị D thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Đồng Thị D, đã hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố của Viện kiểm sát. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại; phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với vật chứng thu được; phù hợp với bản kết luận định giá tài sản và các chứng cứ tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Xét về chứng cứ đã có đủ cơ sở để kết luận:
Vào sáng ngày 18/01/2025, tại nhà ở của gia đình ông Nguyễn Văn Đ, trú tại thôn S, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, Đồng Thị D đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 kiềng bằng vàng loại 02 chỉ; 05 nhẫn tròn bằng vàng, mỗi nhẫn 0,5 chỉ và 5.000.000 đồng của ông Nguyễn Văn Đ trú tại thôn S, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Tổng giá trị tài sản D chiếm đoạt là 42.150.000 đồng (Bốn mươi hai triệu một trăm năm mươi ngàn đồng).
Như vậy đã có đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Đồng Thị D, phạm tội "Trộm cắp tài sản”, như Viện kiểm sát truy tố là đúng.
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, ảnh hưởng đến an ninh trật xã hội; hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã 02 lần bị Toà án xét xử và tuyên phạt đều về tội trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích. Đây là tình tiết định khung hình phạt (tái phạm nguy hiểm) theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Đáng lẽ ra với 02 lần bị Toà án tuyên phạt như vậy, bị cáo phải lấy đó làm bài học để tự răn đe mình; nhưng ở đây bị cáo mới ra tù được thời gian ngắn lại tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản. Cho nên cần xét xử thật nghiêm, mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung và cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian, để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Tuy nhiên xét thấy quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội đã ra đầu thú, bị cáo hiện tại đang mang thai, có ông nội được tặng thưởng Huân Chương kháng chiến. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Cho nên cũng cần xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo, để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, làm nghề lao động tự do thu nhập thấp nên miễn hình phạt tiền là hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Xét thấy bị hại và bị cáo đã thoả thuận thống nhất, bị cáo có trách nhiệm bồi thường tổng cộng toàn bộ thiệt hại là 42.150.000 đồng cho bị hại. Xét thấy đây là sự tự nguyện của hai bên, không ai bị ép buộc, cho nên cần buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt hại tổng số tiền 42.150.000 đồng cho người bị hại là ông Nguyễn Văn Đ.
[5] Trong vụ án này còn có Lê Hoàng Khánh chủ tiệm vàng Kim Nguyên H là người đã mua số vàng mà D trộm cắp mà có; quá trình điều tra đã chứng minh được khi mua vàng thì K không biết đó là tài sản do D trộm cắp mà có, nên Cơ quan điều tra không tiến hành xử lý đối với K là có căn cứ và đúng pháp luật.
[6] Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 túi bóng màu đỏ rộng 25 cm; 01 hộp trang sức hình tròn màu đỏ, đường kính 19 cm, bên ngoài bọc nhung bên trên nắp hộp có dòng chữ “MAI LINH, vàng bạc, nội thất, đá phong thuỷ” không còn giá trị sử dụng.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm g, khoản 2 Điều 173; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:
1. Tuyên bố: Bị cáo Đồng Thị D, phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
2. Xử phạt bị cáo: Đồng Thị D, 40 (Bốn mươi) tháng tù. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 28/01/2025 đến ngày 06/02/2025. Thời hạn tù còn lại tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho người bị hại ông Nguyễn Văn Đ số tiền 42.150.000 đồng (Bốn mươi hai triệu một trăm năm mươi ngàn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357; khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 túi bóng màu đỏ rộng 25 cm; 01 hộp trang sức hình tròn màu đỏ, đường kính 19 cm, bên ngoài bọc nhung bên trên nắp hộp có dòng chữ “MAI LINH, vàng bạc, nội thất, đá phong thuỷ” không còn giá trị sử dụng.
5. Về án phí: Buộc bị cáo Đồng Thị D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn) án phí hình sự sơ thẩm và 2.107.500 đồng (Hai triệu một trăm lẻ bảy nghìn năm trăm đồng) tiền án phí dân sự.
6. Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo lên Toà án cấp trên trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bá Anh |
7
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thị Hiền Lương Phan Thị Hà Giang |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bá Anh |
Bản án số 24/HSST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 24/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đồng Thị D
