|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
Bản án số: 24/2025/HNGĐ – ST
Ngày 17 - 3 - 2025
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tuấn Đức;
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Huỳnh Thị Tuyết Hồng;
Ông Trần Văn Xuân;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 738/2024/TLST- HNGĐ, ngày 25 tháng 12 năm 2024, về việc yêu cầu ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXX - ST, ngày 10 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thùy L, sinh năm: 1984; Cư trú tại: Khu phố H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An (có mặt).
Bị đơn: Ông Lũy Minh L1, sinh năm: 1980; Cư trú tại: Khu phố H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa bà Trần Thị Thùy L trình bày:
Về hôn nhân: Bà L và ông L1 cưới nhau, về sống chung, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận kết hôn số 116, ngày 21 tháng 10 năm 2009, hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung ở nhà trọ khu vực G, huyện B, tỉnh Long An. Đến năm 2014 – 2015, anh trai của bà có cho vợ, chồng và em gái chị L 01 mảnh đất chiều ngang 07m nên vợ, chồng bà và em gái hùn tiền lại mỗi bên ½ số tiền để làm căn nhà dạng thái rồi chia căn nhà làm hai mỗi bên ngăn ½ căn nhà để ở cho đến nay. Công việc của bà làm công nhân cho Công ty G ở Khu công nghiệp T, thị trấn C lương bình quân mỗi tháng không tăng ca khoảng hơn 8.500.000 đồng, còn ông L1 làm nghề tự do. Thời gian đầu vợ, chồng sống chung có hạnh phúc đến năm 2020 không còn hạnh phúc, do ông L1 công việc không ổn định nhưng không chịu làm ăn mà hay đá gà trên mạng. Thời gian vợ, chồng sống chung nhưng thu nhập của ai thì người đó chi tiêu riêng, tự mua sắm cho gia đình và lo cho con, chứ không dùng tiền vào việc chung. Tuy sống chung nhưng ông L1 cho rằng bà có quan hệ tình cảm với người phụ nữ đồng tính khác nên dẫn đến không ai quan tâm đến ai. Sau tết nguyên đán năm 2024, ông L1 có hăm dọa giết bà nếu như không bỏ người phụ nữ đồng tính. Tuy hai người vẫn còn ở chung nhà nhưng tình cảm vợ, chồng không còn, mạnh ai ấy sống. Bà L xét thấy đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân vợ, chồng đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ. Do vậy, bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án cho bà L được ly hôn với ông L1.
Về con chung: Có 01 người con là Lũy Ngọc P, sinh ngày: 26 tháng 11 năm 2011, bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng người con. Về cấp dưỡng: Bà L không yêu cầu ông L1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu;
Nợ chung: Không có.
Tại phiên hòa giải và tại phiên tòa ông Lũy Minh L1 trình bày: Về thời gian cưới nhau, sống chung và đăng ký kết hôn, hôn nhân tự nguyện như bà L trình bày. Còn nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến bà L khởi kiện yêu cầu ly hôn là không đúng. Nguyên nhân dẫn đến vợ, chồng mâu thuẫn không còn hạnh phúc là do bà L có quan hệ tình cảm đồng tính với người phụ nữ khác (bà H). Tuy ông không bắt gặp bà L và bà H ở khách sạn riêng nhưng ông bắt gặp bà L với bà H thường sống chung ở nhà trọ của bà H nên bà L không có thời gian lo cho con. Ông và gia đình bà L khuyên ngăn nhiều lần nhưng bà L không từ bỏ. Do ông còn thương vợ, con nên ông không đồng ý ly hôn với bà L.
Về con chung: Có 01 người con là Lũy Ngọc P, sinh ngày: 26 tháng 11 năm 2011, con hiện nay còn đang ở chung với ông và bà L. Theo nguyện vọng của con được ở với cha và mẹ, nếu bà L cương quyết ly hôn và có căn cứ chấp nhận cho ly hôn thì ông đồng ý để người con cho bà L được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nhưng cho ông được ở gần con.
Tài sản chung: Không yêu cầu;
Nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tố tụng:
Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thùy L đối với bị đơn ông Lũy Minh L1 nơi cư trú: Khu phố H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc được pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Bà Trần Thị Thùy L và ông Lũy Minh L1 xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai là hôn nhân hợp pháp được pháp luật quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Thùy L với ông Lũy Minh L1: Hội đồng xét xử xét thấy, theo lời trình bày của bà L nguyên nhân mâu thuẫn do ông L1 công việc không ổn định, không chịu làm ăn mà hay đá gà trên mạng. Vợ, chồng sống chung nhưng thu nhập của ai thì người đó chi tiêu riêng không dùng tiền vào việc chung. Tuy sống chung nhưng ông L1 cho rằng bà L có quan hệ tình cảm với người phụ nữ đồng tính khác nên dẫn đến không ai quan tâm đến ai. Tuy hai người vẫn còn ở chung nhà nhưng tình cảm vợ, chồng không còn sinh hoạt chung cũng đã gần 01 năm, không còn ai quan tâm đến ai, mà bỏ mặt lẫn nhau. Còn ông L1 cho rằng mâu thuẫn chưa trầm trọng và còn thương vợ, con nên không đồng ý ly hôn.
[2.2] Tại phiên tòa bà L vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn với ông L1. Tuy ông L1 cho rằng mâu thuẫn chưa trầm trọng và còn thương vợ, con nên không đồng ý ly hôn nhưng ông L1 lại cho rằng gần 01 năm nay vợ, chồng sống chung nhưng vợ, chồng không còn ai quan tâm đến ai, bà L thường sống chung tại nhà trọ của bà H nên bà L không có thời gian lo cho con và gia đình. Ông L1 và gia đình bà L khuyên ngăn nhưng bà L không từ bỏ. Do vậy, xét thấy trên thực tế hôn nhân giữa bà L và ông L1 không còn, vợ chồng không còn ai quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không còn hạnh phúc. Từ đó, cho thấy hôn nhân giữa bà L và ông L1 đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L với ông L1.
[2.3] Về con chung: Quá trình sống chung bà L và ông L1 có 01 người con là Lũy Ngọc P, sinh ngày: 26 tháng 11 năm 2011. Bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi con, còn nguyện vọng của cháu P được ở với bà L và ông L1. Do căn nhà bà L và ông L1 làm trên đất của người anh bà L cho bà L làm nhà ở, còn chủ quyền về đất vẫn thuộc quyền của người anh. Do vậy, khi giữa bà L và ông L1 được Tòa án cho ly hôn, bà L cho rằng đã ly hôn thì ông L1 không còn được quyền ở căn nhà trên đất của bà L. Đồng thời, ông L1 cũng cho biết hiện tại ông L1 không có chỗ ở ổn định và cũng không có đất đai thừa kế từ cha mẹ để lại. Mặt khác, công việc ông L1 không ổn định, còn bà L công việc làm Công nhân cho công ty ổn định, có nơi ở ổn định và cháu P từ khi bắt đầu học cho đến nay môi trường cuộc sống, cũng như nơi học đã ổn định. Do vậy, bà L được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục người con Lũy Ngọc P là phù hợp với Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà L không yêu cầu ông L1 cấp dưỡng, sự tự nguyện của bà L là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[2.4] Trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa bà L và ông L1 thừa nhận tài sản chung: Không yêu cầu; Nợ chung: Không có.
[2.5] Về án phí: Bà Trần Thị Thùy L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Trần Thị Thùy L với ông Lũy Minh L1.
- Về hôn nhân: Bà Trần Thị Thùy L được ly hôn với ông Lũy Minh L1.
- Về con chung: Bà Trần Thị Thùy L được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục người con Lũy Ngọc P, sinh ngày: 26 tháng 11 năm 2011.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84, khoản 2 Điều 116 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu;
Nợ chung: Không có;
- Về án phí: Bà Trần Thị Thùy L phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí mà bà L đã nộp theo biên lai số 0013846 ngày 23 tháng 12 năm 2024, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An sang án phí ly hôn sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo bản án: Bà Trần Thị Thùy L và ông Lũy Minh L1 có mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Tuấn Đức |
Bản án số 24/2025/HNGĐ – ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 24/2025/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Thùy L xin ly hôn Lũy Minh L
