Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN LÂM

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HS-ST

Ngày 13 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Vân Anh- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Đức Mạnh – Phó Chủ tịch Liên đoàn lao động huyện Văn Lâm

Bà Nguyễn Thị Ngà – Nguyên Bí thư huyện Đoàn huyện Văn Lâm

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Chu Thị Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Lâm Nguyễn Ngọc T7, sinh ngày 03/10/2008 ( Khi phạm tội 15 tuổi 11 tháng 10 ngày).

Nơi sinh và nơi cư trú: Thôn Á, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Lâm Văn T ( đã chết) và bà Nguyễn Thị H ( bỏ đi không rõ địa chỉ); Vợ, con: chưa có.

Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/9/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.

2. Nguyễn Đức H1, sinh ngày 20/10/2007 ( Khi phạm tội 17 tuổi 01 tháng 07 ngày).

Nơi sinh và nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An ( hiện nay là Thôn T, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 9 /12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Không rõ bố và mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị T1; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/9/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.

3. Nguyễn Văn H2, sinh năm 1979;

Nơi sinh và nơi cư trú: Xóm I, xã H, huyện G, tỉnh Nam Định;

Chỗ ở hiện nay: Số A T, phường H, quận H, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 09/12; Nghề nghiệp: Sửa chữa xe máy; Con ông Nguyễn Văn Q ( đã chết)và bà Nguyễn Thị L; Vợ: Trần Thị Minh P; sinh năm 1988; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2016.

Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo T7: Ông Đỗ Văn N – Bí thư Đoàn thanh niên xã Đ, huyện V.

Có mặt.

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo H1: Ông Bùi Văn T2, sinh năm 1989 và bà Nguyễn Thị T1 – là mẹ đẻ);

Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo L1 Nguyễn Ngọc T7 và bị cáo Nguyễn Đức H1: Bà Vương Thị Thanh N1 – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H.

Có mặt.

Bị hại: Anh Lầu Mí D, sinh năm 2005;

Địa chỉ: Thôn N, xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Anh Ly Mí T3, sinh năm 2001;

Địa chỉ: Thôn N, xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang.

Chị Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 2010;

Người đại diện theo pháp luật của chị Ngọc A: Bà Triệu Thị H3, sinh năm 1988 ( là mẹ đẻ);

Đều có địa chỉ: Thôn H, xã Y, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1962;

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.

Đều vắng mặt.

Ông Bùi Văn T2, sinh năm 1989;

Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Có mặt.

Người làm chứng:

Bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1945;

Địa chỉ: Thôn Á, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

Ông Phùng Văn L1, sinh năm 1969;

Địa chỉ: Thôn T, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.

Anh Lầu Mí S, sinh năm 2000;

Địa chỉ: Thôn N, xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang.

Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lâm Nguyễn Ngọc T7 sinh ngày 03/10/2008 ở thôn Á, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; Nguyễn Đức Hiếu sinh ngày 20/10/2007 ở thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An và Nguyễn Thị Ngọc A sinh ngày 04/6/2010 ở xóm H, xã Y, huyện T, tỉnh Phú Thọ có quan hệ bạn bè với nhau. Sáng ngày 10/9/2024, cả ba đi taxi đến vòng xuyến thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên thì được anh Đỗ Văn L2 sinh năm 1992 ở Tổ dân phố D, phường T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên ra đón rồi đưa cả ba đến phòng trọ số 02 khu nhà trọ của gia đình ông Nguyễn Văn T4 ở thôn Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Khoảng 07 giờ ngày 13/9/2024, T7, H1, Ngọc A đến Công ty Trách nhiệm hữu hạn C ở khu công nghiệp Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên để thử việc. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày thì cả ba đi bộ về phòng trọ. Khi Ngọc A, T7, H1 đi bộ đến Cổng công ty J thuộc khu công nghiệp Y, huyện Y thì dừng lại nghỉ. Cả ba gặp anh Lầu Mí D sinh năm 2005 ở thôn N, xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang đang điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVEA ALPHA, màu đen, biển số 23AY-006.86 đến khu vực trước cổng công ty J để đón bạn. Lúc này T7 nhìn thấy biển số xe của anh D là “23” nên biết anh D là người dân tộc, T7 quay ra nháy mắt và nói với H1 “xe này”. H1 hiểu ý của T7 sẽ chiếm đoạt chiếc xe này. Sau đó, T7 đi đến vị trí anh D đứng chờ rồi giả vờ nhờ anh D chở về phòng trọ của T7. Anh D tưởng thật nên đã đồng ý rồi điều khiển xe mô tô chở T7 và Ngọc A đi về trước, còn H1 đứng chờ để anh D quay lại chở sau. Anh D điều khiển xe đi theo chỉ dẫn của T7 đến phòng trọ của T7 thì T7 bảo Ngọc A lên phòng trọ trước, còn T7 bảo anh D chở T7 quay lại để đón H1, nhưng khi quay lại thì không thấy H1 nên T7 bảo D chở T7 quay lại phòng trọ. Sau đó T7 vào bếp ăn của gia đình ông T4 lấy 01 con dao chuôi bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 20 cm cất vào túi quần phía trước bên phải. Khi anh D chở H1 đến cổng Khu công nghiệp Y thì gặp H1. Cả ba lên xe đi được khoảng 500m thì T7 bảo anh D: “đó không phải là phòng trọ của chúng tôi mà là phòng trọ do công ty thuê cho chúng tôi ở”. Sau đó, T7 bảo anh D chở đi tiếp khoảng 500m thì T7 lên điều khiển xe mô tô cho anh D, đồng thời đưa dao cho H1 cầm và bảo anh D ngồi ở giữa. Khi T7 điều khiển xe đi đến đường G, khu công nghiệp P, thuộc xã M, huyện V. Quan sát thấy có khu bãi đất trống đang san lấp, không có người. T7 liền dừng xe lại và nói “mấy anh em ngồi đây nói chuyện một tí rồi về” nhưng anh D không đồng ý. T7 lại bảo anh D: “cho mượn xe để bốc đầu” nhưng anh D không đồng ý. T7 vẫn nổ máy điều khiển xe và quay lại nháy mắt với H1 và bảo H1 “Lên xe”, đồng thời H1 cầm dao trên tay khua về phía của anh D rồi nhảy lên xe máy và nói “Mày đứng yên đây”. Anh D chạy đuổi theo phía sau xe và hô hoán thì H1 cầm dao khua về phía anh D rồi tăng ga bỏ chạy được khoảng 100m thì H1 vứt dao ở ven đường, sau đó H1 đổi lái cho T7. Cả hai đi vào quán sửa xe máy (không rõ địa chỉ) ở huyện Y và hỏi mượn 01 chiếc cà lê, H1 tháo biển số xe cài ở khung xe để không bị phát hiện. Sau đó H1 lái xe chở T7 về phòng trọ rồi vứt biển số xe tại nền phòng trọ và kể lại sự việc cho Ngọc A biết, đồng thời bảo Ngọc A thu dọn đồ bỏ trốn lên thành phố Hà Nội. T7 điều khiển xe mô tô của anh D chở Ngọc A và H1 đến nhà nghỉ N2, địa chỉ tại ở ngõ A N, phường H, quận H, thành phố Hà Nội thuê 02 phòng nghỉ qua đêm.

Đến sáng ngày 14/9/2024, do cả ba không có tiền tiêu sài nên H1 gọi điện thoại cho Nguyễn Văn H2 sinh năm 1979 ở xóm I, xã H, huyện G, tỉnh Nam Định (là chủ cửa hàng S1 tại số A T, phường H, quận H, thành phố Hà Nội) và nói: “cháu có chiếc xe máy của bạn muốn bán cho bác” thì H2 bảo H1 mang xe đến xem. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, H1 điều khiển chiếc xe trên đến cửa hàng của H2. H2 hỏi H1 về nguồn gốc xe. Tại đây H1 nói dối xe máy của bạn H1 bỏ nhà đi nên không có giấy tờ, không có biển số. H2 hỏi H1: “xe trộm cắp à” và yêu cầu H1 phải có giấy tờ xe, căn cước công dân của chủ xe và số điện thoại của chủ xe thì mới mua xe nhưng H1 tiếp tục nói “bạn cháu nó bỏ nhà đi, không có giấy tờ gì hết”. Lúc này, H2 biết H1 nói dối và nhận thức rõ nguồn gốc chiếc xe do phạm tội mà có nhưng do hám lời nên vẫn đồng ý mua với số tiền 3.000.000 đồng. Sau đó H1 đưa cho T7 500.000 đồng, còn lại trả tiền nhà nghỉ và tiêu sài cá nhân hết. H2 bảo H1 mang chiếc xe trên đến cửa hàng S2 cơ sở 2 của H2 tại ngõ G, đường N, phường H, quận H, thành phố Hà Nội cất giấu.

Sau khi sự việc xảy ra, ngày 14/9/2024, anh D đến Công an huyện Y trình báo sự việc trên. Cùng ngày 14/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã thu giữ tại hiện trường 01 con dao bằng kim loại, dài 30cm chuôi gỗ dài 12cm, phần lưỡi dao rộng 4cm, đầu lưỡi dao vát nhọn. Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã khám xét khẩn cấp tại phòng trọ của T7, H1 thu giữ 01 chiếc biển số 23AY-006.86. Đến ngày 16/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã bàn giao hồ sơ vụ án trên cho Cơ quan CSĐT Công an huyện V để giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 20/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã khám xét khẩn cấp tại cửa hàng S2 cơ sở 2 của H2 tại ngõ G, đường N, phường H, quận H, thành phố Hà Nội và thu giữ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen, không gắn biển số. Cơ quan điều tra cũng thu giữ của H1 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s plus bên trong lắp sim số 0965929006 và thu giữ của H2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8plus bên trong lắp sim số 0965182238.

Ngày 20/9/2024, Hội đồng định giá tài sản huyện V đã định giá và kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen, biển số 23AY-006.86 trị giá 15.000.000 đồng.

Ngày 09/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V có Công văn số 1316/CV-ĐTTH về việc trao đổi thẩm quyền điều tra đối với hành vi Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có đối với Nguyễn Văn H2. Ngày 30/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H có Công văn đồng ý để Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V điều tra theo quy định pháp luật.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã thu thập được 06 tệp video liên quan đến vụ án cụ thể như sau: 04 tệp video lưu tên “nhà T4 1”,“nhà T4 2”, “nhà T4 3”, “nhà T4 4” được lưu trữ trong 01 USB màu trắng, nhãn hiệu Kingston. 02 tệp video lưu tên “nhà T6 1”, “nhà T6 2”, được lưu trữ trong 01 USB màu trắng, nhãn hiệu Kingston (Tất cả được niêm phong ký hiệu “Video vụ cướp”). Ngày 06/12/2024, Phòng K - Công an tỉnh H ban hành Kết luận giám định số 367/KL-KTHS kết luận: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các file video nhà T4 1.mp4, nhà T4 2. mp4, nhà T4 3.mp4 và nhà T4 4.mp4. Không xác định được file video nhà thuận 1.mp4, nhà thuận 2.mp4 có bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh liên quan đến vụ việc hay không (Do hình ảnh trong file video nhà thuận 1.mp4 bị gián đoạn ở thời điểm 20:07:07 đến 20:07:19 ngày 13/9/2024; file video nhà thuận 2.mp4 bị gián đoạn ở nhiều thời điểm.

Quá trình điều tra: Ông Bùi Văn T2 (là bố dượng của H1) đã tự nguyện bồi thường cho anh D số tiền 10.000.000 đồng. Anh D đã nhận đủ số tiền trên và tự nguyện không yêu cầu bồi thường gì thêm, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho H1.

Bản cáo trạng số 20/CT-VKS, ngày 13/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, truy tố bị cáo L1 Nguyễn Ngọc T7 và Nguyễn Đức H1 về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Văn H2 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo như nội dung cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo T7, H1 đều biết sai do hậu quả của mình gây ra, nay bị tạm giam rất ân hận về hành vi vi phạm của mình. Các bị cáo T7, H1 đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội. Bị cáo H2 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để bị cáo có cơ hội sửa sai và hoàn thiện bản thân.

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo H1 là bà T1, ông T2 và cũng là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày, ông có quan hệ là bố dượng bị cáo H1, việc H1 phạm tội gia đình không biết. Sau khi sự việc xảy ra H1 rất ân hận và đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại, ông bà mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H1.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Lâm Nguyễn Ngọc T7 và Nguyễn Đức H1 phạm tội “Cướp tài sản”; Bị cáo Nguyễn Văn H2 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Về hình phạt:

Điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; khoản 6 Điều 91; khoản 2 Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T7.

Điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; khoản 6 Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo H1

Khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 92 Luật thi hành án hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn H2.

Xử phạt bị cáo Lâm Nguyễn Ngọc T7 từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/9/2024.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H1 từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/9/2024.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H2 từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo H2 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện G, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Các biện pháp tư pháp: Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen, biển số 23AY-006.86 xác định là của anh Ly Mí T3. Ngày 16/01/2025, cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho anh T3. Anh Tú nhận lại tài sản và tự nguyện không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra để xem xét giải quyết.

Đối với 01 con dao bằng kim loại, dài 30cm chuôi gỗ dài 12cm, phần lưỡi dao rộng 4cm, đầu lưỡi dao vát nhọn xác định là công cụ thực hiện tội phạm nên cho tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone 6s plus bên trong lắp sim số 0965929006 thu của H1 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8plus bên trong lắp sim số 0965182238 thu của H2 xác định sử dụng vào mục đích phạm tội nên cho tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự:

Ông Bùi Văn T2 là bố dượng của H1 đã tự nguyện bồi thường cho anh D số tiền 10.000.000 đồng. Anh D đã nhận đủ số tiền trên và tự nguyện không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Đối với số tiền 3.000.000 đồng là tiền bị cáo H1 bán xe mô tô của anh D cho H2. Bị cáo T7 được chia 1.000.000 đồng; 1.000.000 đồng trả tiền nhà nghỉ, bị cáo H1 cầm 1.000.000 đồng. Nên sẽ truy thu của bị cáo T7, H1 mỗi bị cáo 1.5000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho các bị cáo trình bày: Nhất trí với tội danh như Viện kiểm sát đã truy tố; tuy nhiên về hình phạt do các bị cáo còn ít tuổi bồng bột nên không lường trước được hậu quả mỗi việc làm của mình. Nay các bị cáo đã nhận thức được sai trái của mình và rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Về hoàn cảnh gia đình các bị cáo rất éo le, bị cáo T7 bố mất từ khi bị cáo mới 9 tuổi. Năm bị cáo 10 tuổi mẹ bị cáo bỏ đi lấy chồng khác, bị cáo ở với bà ngoại vì vậy bị cáo Thiện chịu thiệt thòi cả về tinh thần cũng như điều kiện nuôi dưỡng. Bị cáo H1 cũng chịu rất nhiều thiệt thòi, khi mẹ bị cáo đang mang thai bố bỏ rơi hai mẹ con, hiện nay bị cáo sống cùng mẹ và bố dượng, bố mẹ bận đi làm thiếu sự chăm sóc quản lý các con, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo có cơ hội sớm trở về với gia đình. Đối với bị cáo T7 đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo T7 mức án 04 năm 06 tháng tù. Đối với bị cáo H1 đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo H1 mức án 05 năm tù.

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo T7 ông Đỗ Văn N – Bí thư Đoàn xã Đ trình bày: Bị cáo T7 khi phạm tội còn ít tuổi, suy nghĩ bồng bột đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo để giảm cho bị cáo mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo H1 là bà T1, ông T2 và cũng là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày: Trong quá trình điều tra bị cáo H1 đã tác động gia đình để bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng, bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H1, ông, bà mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H1 để bị cáo sớm trở về với gia đình và làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa: Các bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm đều đề nghị tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sự vắng mặt của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng tại phiên tòa hôm nay không ảnh hưởng đến việc xét xử khách quan đối với các bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, đơn trình báo, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, sơ đồ hiện trường cùng với các chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 21 giờ ngày 13/9/2024 tại đường G, khu công nghiệp P, thuộc xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Lâm Nguyễn Ngọc T7 và Nguyễn Đức H1 đã thực hiện hành vi dùng dao (là phương tiện nguy hiểm) đe doạ để chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen, biển số 23AY-006.86 có trị giá 15.000.000đồng của anh L3 Mí Dình sau đó đem bán cho Nguyễn Văn H2. H2 biết rõ chiếc xe trên là tài sản do H1, T7 phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý mua với giá 3.000.000 đồng với mục đích để bán hưởng lợi, sau đó thì bị phát hiện.

Hành vi của T7, H1 phạm tội Cướp tài sản theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự. Hành vi của H2 phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ pháp luật.

[3] Xét tính chất mức độ của hành vi và vai trò phạm tội của các bị cáo; Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Việc các bị cáo dùng dao đe dọa uy hiếp bị hại khiến người bị hại lâm vào tình trạng không thể chống cự được là rất nguy hiểm, táo tợn. Các bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, nên cần có hình phạt thật nghiêm khắc đối với các bị cáo mới có tác dụng giáo dục các bị cáo nói riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Đánh giá vai trò của các bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: Đây là vụ án có đồng phạm tham gia thực hiện hành vi phạm tội nhưng chỉ mang tính chất giản đơn vì không có sự phân công, bàn bạc rõ ràng giữa các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo cùng nhau đi làm về sau đó thấy có thể cướp được tài sản của người khác là rủ nhau cùng thực hiện. Bị cáo T7 là người khởi xướng, trực tiếp tiếp cận bị hại, chuẩn bị công cụ phạm tội vừa là người thực hành tích cực trong quá trình phạm tội. Bị cáo H1 trực tiếp cùng với bị cáo T7 thực hiện hành vi phạm tội, dùng dao đe dọa uy hiếp lấy tài sản của người bị hại nhưng xác định có vai trò thấp hơn bị cáo T7. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo.

Tính đến ngày phạm tội bị cáo T7 là 15 tuổi 11 tháng 10 ngày nên được áp dụng khoản 2 Điều 101 của Bộ luật hình sự, mức hình phạt cao nhất không quá ½ mức hình phạt tù mà điều luật quy định. Bị cáo H1 17 tuổi 01 tháng 07 ngày, căn cứ khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự áp dụng mức phạt tù có thời hạn đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi không quá ¼ mức hình phạt tù mà điều luật quy định. Vì vậy, mức hình phạt của bị cáo T7 sẽ thấp hơn so với bị cáo H1.

Đối với hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H2 đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, đồng thời gián tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang lo lắng cho người dân. Vì vậy, cần phải đưa bị cáo ra xét xử thật nghiêm trước pháp luật để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

- Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội; Bị cáo T7 và bị cáo H1 phạm tội khi chưa đến tuổi thành niên, nhận thức pháp luật còn hạn chế.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên có căn cứ cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo H1 đã tác động nhờ gia đình bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo H2 có đơn trình bày hoàn cảnh khó khăn xin cải tạo tại địa phương, được UBND xã H xác nhận. Bị cáo H2 phạm tội lần này thuộc trường hợp phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, do đó bị cáo được hưởng thêm các tình tiết quy định tại điểm i khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Để đáp ứng yêu cầu phòng chống tội phạm, căn cứ vào quy định của Bộluật hình sự, tính chất, mức độ của hành vi, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹtrách nhiệm hình sự của các bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: Các bị cáo T7, H1 phạm tội rất nghiêm trọng nên cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian bằng việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn để đảm bảo việc răn đe, giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm tại phiên tòa là phù hợp.

Riêng bị cáo H2, Hội đồng xét xử thấy lẽ ra phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo có đơn xin cải tạo tại địa phương, được UBND xã H xác nhận. Bị cáo được xác định có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội và là tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, việc không cách ly bị cáo khỏi xã hội cũng không ảnh hưởng đến công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm nên đủ điều kiện áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, xử phạt bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo để bị cáo có cơ hội cải tạo ngoài xã hội thể hiện sự nhân đạo của Nhà nước đối với bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo T7, H1 chưa thành niên không có việc làm, bị cáo H2 là lao động tự do, thu nhập thấp và không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Các biện pháp tư pháp: Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen, biển số 23AY-006.86 xác định là tài sản của anh Ly Mí T3. Ngày 16/01/2025, cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho anh T3. Anh Tú nhận lại tài sản và tự nguyện không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với 01 con dao bằng kim loại, dài 30cm chuôi gỗ dài 12cm, phần lưỡi dao rộng 4cm, đầu lưỡi dao vát nhọn là của ông Nguyễn Văn T4. Ông T4 không biết T7, H1 sử dụng vào việc phạm tội nên không có căn cứ để xử lý và ông T4 cũng không có yêu cầu gì đối với con dao và đây là công cụ các bị cáo dùng để thực hiện tội phạm nên cho tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01chiếc điện thoại Iphone 6s plus, số IMEI: 353330079759076 bên trong lắp sim số 0965929006 thu của H1 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8plus số IMEI: 356115092141874 bên trong lắp sim số 0965182238 thu của H2 xác định các bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên cho tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự:

Trong quá trình điều tra ông Bùi Văn T2 là bố dượng bị cáo H1 đã bồi thường cho anh D số tiền 10.000.000 đồng, anh D nhận đủ tiền không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với số tiền 3.000.000 đồng là tiền bị cáo H1 bán xe mô tô của anh D cho H2. Tại phiên tòa bị cáo T7 và bị cáo H1 đều xác định bị cáo H1 đưa cho bị cáo T7 1.000.000 đồng, 1.000.000 đồng trả tiền nhà nghỉ, bị cáo H1 cầm 1.000.000 đồng. Nên sẽ truy thu của bị cáo T7, H1 mỗi bị cáo 1.5000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.

Đối với Nguyễn Thị Ngọc A đã có hành vi không tố giác hành vi phạm tội của H1, T7. Nhưng Ngọc A là người dưới 16 tuổi nên không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi không tố giác tội phạm, Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; khoản 6 Điều 91; khoản 2 Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T7.

Điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; khoản 6 Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo H1

Khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 92 Luật thi hành án hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn H2.

Khoản 1 Điều 46; Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

Khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Các bị cáo Lâm Nguyễn Ngọc T7, Nguyễn Đức H1 đều phạm tội “Cướp tài sản”.

Bị cáo Nguyễn Văn H2 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xử phạt: Bị cáo L1 Nguyễn Ngọc T7 04 ( bốn ) năm 06 ( sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/9/2024.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức H1 05 ( năm ) năm 06 ( sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/9/2024.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H2 01 ( một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 ( hai ) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo H2 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện G, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Các biện pháp tư pháp: Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại, dài 30cm chuôi gỗ dài 12cm, phần lưỡi dao rộng 4cm, đầu lưỡi dao vát nhọn.

Tịch thu phát mại lấy tiền sung quỹ Nhà nước 01chiếc điện thoại Iphone 6s plus, số IMEI: 353330079759076 bên trong lắp sim số 0965929006 thu của H1 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8plus, số IMEI: 356115092141874 bên trong lắp sim số 0965182238 thu của H2.

(Đặc điểm chi tiết vật chứng được thể hiện theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lâm)

Truy thu của bị cáo Lâm Nguyễn Ngọc T7 và Nguyễn Đức H1 mỗi bị cáo số tiền 1.5000.000 đồng ( Một triệu năm trăm nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước.

Về án phí: Buộc các bị cáo Lâm Nguyễn Ngọc T7, Nguyễn Đức H1, Nguyễn Văn H2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp; người bào chữa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh (Phòng KTNV và THA);
  • - VKS huyện Văn Lâm;
  • - Công an huyện Văn Lâm;
  • - Chi cục THADS huyện Văn Lâm;
  • - Các bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Vân Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HS-ST ngày 13/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN về hình sự sơ thẩm (cướp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)

  • Số bản án: 24/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cướp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lâm Nguyễn Ngọc T và đồng phạm cướp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger