Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LẠNG SƠN

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HS-ST

Ngày 12-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Bà Hứa Thị Thanh Xuyến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trịnh Tuấn Sỹ.

Ông Lâm Đức Hiếu.

Thư ký phiên tòa: Bà Lành Thị Thanh Nụ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Kỳ Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 05/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2025/QĐST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Ngô Hồng L; sinh ngày 10 tháng 10 năm 1984 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi thường trú và chỗ ở: Số I, đường N, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; Căn cước công dân số [...] do Cục C1 về TTXH cấp ngày 15/11/2021; nghề nghiệp: Không; giới tính: Nữ; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Ngô Đức C và bà Lục Tuyết L1; có chồng là Nguyễn Tiến D và 02 con; tiền án: Không có; tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 44/QĐ-XPHC ngày 19-10-2023 của Công an thành phố L xử phạt vi phạm hành chính 6.500.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích, 2.500.000 đồng về hành vi xúc phạm, lăng mạ, bôi nhọ danh dự nhân phẩm của người khác; nhân thân: Tại Bản án số 47/2016/HSST ngày 25-5-2016 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; tại Bản án số 34/2020/HS-ST ngày 20-4-2020 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đều đã được xóa án tích). Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24-10-2024 đến nay. Có mặt.

2

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Bà Đinh Ngọc V, sinh năm 1980; địa chỉ: Số G, T, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
  2. Ông Lương Văn T, sinh năm 1988; địa chỉ: K, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
  3. Bà Đàm Thị M, sinh năm 1980; địa chỉ: Số E, đường N, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ tháng 6/2023 đến tháng 9/2024, Ngô Hồng L cho vay lãi nặng dưới hình thức “bát họ” và vay tính lãi ngày; người vay không cần thế chấp tài sản. Mỗi bát họ được tính là 6.000.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, cắt trước tiền lãi 1.500.000 đồng, tương ứng với lãi suất 304,2%/năm, người vay thực tế nhận được 4.500.000 đồng, mỗi ngày người vay phải trả 200.000 đồng cho đến khi đủ 6.000.000 đồng. Trường hợp người vay chưa thanh toán đủ tiền mà muốn vay tiếp thì Ngô Hồng L đáo bát cũ và cho vay bát mới. Trường hợp đáo bát, sẽ trừ luôn tiền lãi, trừ tiếp số tiền người vay còn nợ ở bát cũ, như vậy bát cũ coi như đã thanh toán xong. Quá trình cho vay, Ngô Hồng L tính lãi suất dựa trên số tiền vay gốc, không tính cộng dồn tiền vay gốc với tiền lãi chưa thanh toán để tính lãi. Với hình thức vay lãi ngày, Ngô Hồng L tính lãi 50.000đồng/1.000.000đồng/01 ngày, tương ứng với mức lãi suất 1.825%/năm, tiền lãi phải trả đều hàng ngày cho đến khi trả hết nợ gốc. Ngô Hồng L sử dụng điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, số IMEI: 355656666202452, lắp kèm sim số thuê bao 0923.922.666 và số 0966.902.989 để liên lạc với khách vay. Ngô Hồng L trực tiếp giao tiền mặt cho người vay, người vay trả tiền mặt cho Ngô Hồng L.

Với cách thức nêu trên, từ tháng 6/2023 đến tháng 9/2024, Ngô Hồng L đã cho 03 người vay tiền, cụ thể như sau:

1. Đối với bà Đàm Thị M:

  • - Ngày 28/6/2023, Ngô Hồng L cho bà Đàm Thị M vay 01 bát họ tương ứng số tiền 6.000.000 đồng. Ngô Hồng L cắt trước tiền lãi 1.500.000 đồng, bà Đàm Thị M nhận 4.500.000 đồng, thời hạn trả nợ trong 30 ngày, trả đều mỗi ngày 200.000 đồng.
  • - Ngày 05/8/2023, bà Đàm Thị M vay thêm của L 01 bát họ mới và thỏa thuận trả tiền như trên.
  • - Ngày 11/8/2023, bà Đàm Thị M vay thêm của L 01 bát họ mới và thỏa thuận trả tiền như trên.
  • - Ngày 28/8/2023, bà Đàm Thị M không có khả năng trả nợ nên Ngô Hồng L đã cho bà đáo bát vay ngày 05/8/2023, Ngô Hồng L vẫn cắt lãi như trên, đồng thời trừ đi số tiền còn nợ của khoản vay ngày 05/8/2023.
  • - Ngày 30/8/2023, Ngô Hồng L cho bà Đàm Thị Mai Đ bát vay ngày 11/8/2023.
  • - Ngày 05/9/2023 và ngày 08/9/2023, Ngô Hồng L cho bà Đàm Thị Mai Đ bát vay ngày 28/8/2023 và ngày 30/8/2023. Do bà Đàm Thị M còn nợ nhiều nên lần đáo này bà Đàm Thị M chỉ còn được nhận 2.000.000 đồng sau khi Ngô Hồng L trừ đi số tiền còn nợ của khoản vay trước.

Quá trình vay giữa bà Đàm Thị M và Ngô Hồng L không làm giấy vay tiền. Hiện nay, bà Đàm Thị M còn nợ Ngô Hồng L 4.000.000 đồng chưa trả.

2. Đối với ông Lương Văn T:

  • - Khoảng tháng 3/2024, Ngô Hồng L cho ông Lương Văn T vay 01 bát họ tương ứng số tiền 6.000.000 đồng. Ngô Hồng L cắt trước tiền lãi 1.500.000 đồng, ông Lương Văn T nhận 4.500.000 đồng, thời hạn trả nợ trong 30 ngày, trả đều mỗi ngày 200.000 đồng.
  • - Khoảng tháng 9/2024, ông Lương Văn T tiếp tục vay 01 bát họ của Ngô Hồng L vẫn với thỏa thuận, lãi suất như trên.

Quá trình vay giữa ông Lương Văn T và Ngô Hồng L không làm giấy vay tiền. Ông Lương Văn T đã trả hết nợ cho Ngô Hồng L.

3. Đối với bà Đinh Ngọc V:

  • - Ngày 24/4/2024, Ngô Hồng L cho bà Đinh Ngọc V vay 6.000.000 đồng với lãi suất là 50.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày, trả lãi hàng ngày 300.000 đồng cho đến khi trả tiền gốc của khoản vay.
  • - Ngày 13/8/2024, do không có khả năng trả tiền lãi của khoản vay trên theo thỏa thuận nên bà Đinh Ngọc V xin trả dần vào tiền gốc mà không trả tiền lãi nữa nhưng Ngô Hồng L không đồng ý, mà chỉ đồng ý cho bà Đinh Ngọc V trả đều mỗi ngày 200.000 đồng trong vòng 50 ngày, tức tính lãi là 4.000.000 đồng, tương đương lãi suất vay là 486,7%/năm.

Quá trình vay giữa bà Đinh Ngọc V và Ngô Hồng L không làm giấy vay tiền. Bà Đinh Ngọc V đã trả hết nợ cho Ngô Hồng L.

Bảng kê chi tiết các khoản vay, lãi suất vay, tiền thu lợi bất chính như sau:

STT Họ và Tên Thời gian vay Thời gian trả xong Hình thức vay Số tiền vay (Đồng) Số tiền lãi (đồng) Thời gian vay Lãi hợp pháp (Đồng) Lãi bất chính (đồng)
(ngày) Lãi suất vay (%/năm)
1 Lương Văn Thuận Tháng 3/2024 Đã trả xong Bát họ 6.000.000 1.500.000 30 304,2 98.630 1.401.370
Tháng 9/2024 Đã trả xong 6.000.000 1.500.000 30 304,2 98.630 1.401.370
2 Đàm Thị Mai 28/6/2023 Đã trả xong Bát họ 6.000.000 1.500.000 30 304,2 98.630 1.401.370
05/8/2023 Đã trả xong 6.000.000 1.500.000 30 304,2 98.630 1.401.370
11/8/2023 Đã trả xong 6.000.000 1.500.000 30 304,2 98.630 1.401.370
28/8/2023 Đã trả xong 6.000.000 1.500.000 30 304,2 98.630 1.401.370
30/8/2023 Đã trả xong 6.000.000 1.500.000 30 304,2 98.630 1.401.370
05/9/2023 Đã trả xong 6.000.000 1.500.000 30 304,2 98.630 1.401.370
08/9/2023 còn nợ 4.000.000 đồng 6.000.000 1.500.000 30 304,2 98.630 1.401.370
3 Đinh Ngọc Vân 24/4/2024 13/8/2024 Lãi ngày 6.000.000 50.000/1tr/n 112 1.825 368.219 33.231.781
13/8/2024 Từ ngày 13/8/2024 thỏa thuận thay đổi mức trả tiền lãi Đã trả xong 4.000.000 50 486,7 164.384 3.835.616
TỔNG 60.000.000 1.420.274 49.679.726

Tổng số tiền gốc Ngô Hồng L cho vay lãi nặng là 60.000.000 đồng với lãi suất vay từ 304,2%/năm đến 1.825%/năm (vượt quá lãi suất quy định từ 284,2% đến 1.805%), thu tổng số tiền lãi bất chính là 49.679.726 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Ngô Hồng Ly khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Tại Cơ quan điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án gồm các bà Đinh Ngọc V, Đàm Thị M, ông Lương Văn T đều khai nhận được vay tiền với Ngô Hồng L với số lần vay, thời gian vay, số tiền vay, lãi suất và việc trả nợ gốc và lãi như đã nêu ở trên.

Tại Cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 07/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố Ngô Hồng L về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Hồng L giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, thừa nhận đã cho các khách vay lãi nặng như nêu trên.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn giữ nguyên Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Ngô Hồng L phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Áp dụng khoản 1 Điều 201, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36, Điều 47, Điều 48, Điều 50 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về biện pháp tư pháp: Truy thu số tiền gốc 60.000.000 đồng bị cáo Ngô Hồng L cho vay lãi nặng để nộp ngân sách Nhà nước, cụ thể: Truy thu bị cáo Ngô Hồng L số tiền gốc đã thu về 56.000.000 đồng; truy thu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Đàm Thị M số tiền nợ gốc chưa trả là 4.000.000 đồng. Truy thu bị cáo Ngô Hồng L số tiền lãi tương ứng với mức 20%/năm để sung ngân sách Nhà nước số tiền là 1.420.274 đồng.

Buộc bị cáo phải trả tổng số tiền thu lời bất chính cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, cụ thể: Trả lại cho bà Đinh Ngọc V số tiền 4.067.397 đồng; trả lại cho bà Đàm Thị M số tiền 9.809.590 đồng; trả lại cho ông Lương Văn T số tiền 2.802.740 đồng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, hóa giá nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím, số imei 355656666202452, lắp sim số 0923.922.666 và số 0966.902.989. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận vì không có việc làm ổn định bị cáo đã cho vay lãi nặng để kiếm lời, bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội đã thực hiện, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Phiên tòa được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, tất cả những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều vắng mặt nhưng họ đều đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ vụ án, bà Đàm Thị M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử, căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng, việc thu thập tài liệu, chứng cứ của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện, các tài liệu chứng cứ đã thu thập đều hợp pháp.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, các vật chứng đã thu giữ được và toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở xác định: Trong thời gian từ tháng 6/2023 đến tháng 9/2024, trên địa bàn thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo đã cho 03 người gồm bà Đinh Ngọc V, bà Đàm Thị M và ông Lương Văn T vay tiền nhiều lần, với hình thức vay bát họ và vay lãi ngày, tổng số tiền gốc cho vay là 60.000.000 đồng, với mức lãi suất từ 304,2%/năm đến 1.825%/năm, gấp trên 91 lần lãi suất tối đa được phép quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự; thu lãi bất chính số tiền là 49.679.726 đồng. Do đó, đủ cơ sở kết luận bị cáo Ngô Hồng L đã phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo tuy ít nghiêm trọng nhưng đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về lĩnh vực tài chính, gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm cho nhiều gia đình, cá nhân lâm vào cảnh khó khăn. Bị cáo là người trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi cho vay lãi nặng là vi phạm pháp luật, nhưng vì lợi nhuận trước mắt, muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài bị cáo đã phạm tội. Để có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

[5] Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền sự chưa được xóa và đã 02 lần bị kết án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đều đã được xóa án tích) nên xác định bị cáo có nhân thân không tốt.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tại phiên tòa bị cáo tỏ thái độ ăn năn, hối cải; bị cáo đã đã tự nguyện hoàn trả một phần khoản tiền thu lời bất chính cho người vay là bà Đinh Ngọc V với số tiền 33 triệu đồng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[8] Từ những nhận định trên, xét thấy, bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng nên cho bị cáo được cải tạo tại địa phương là phù hợp. Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản, đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi nên Hội đồng xét xử không khấu trừ thu nhập, không buộc bị cáo phải lao động phục vụ cộng đồng và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[9] Về biện pháp tư pháp: Số tiền gốc bị cáo cho vay lãi nặng 60.000.000 đồng là phương tiện phạm tội, cần truy thu để nộp vào ngân sách Nhà nước, trong đó: Truy thu bị cáo số tiền gốc đã thu về là 56.000.000 đồng; truy thu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên đến vụ án bà Đàm Thị M số tiền là 4.000.000 đồng.

[10] Đối với số tiền lãi tương ứng với mức 20%/năm là 1.420.274 đồng là khoản tiền phát sinh từ tội phạm cần truy thu đối với bị cáo để nộp vào ngân sách Nhà nước.

[11] Đối với số tiền thu lời bất chính (lãi vượt mức 20%/năm), tổng số tiền là 49.679.726 đồng, cần buộc bị cáo phải trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Quá trình điều tra, bị cáo đã trả cho bà Đinh Ngọc V 33.000.000 đồng, nay bị cáo còn phải trả bà Đinh Ngọc V số tiền 4.067.397 đồng; trả lại cho bà Đàm Thị M số tiền 9.809.590 đồng; trả lại cho ông Lương Văn T số tiền 2.802.740 đồng.

[12] Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím, số imei 355656666202452, lắp sim số 0923.922.666 và số 0966.902.989 là điện thoại của bị cáo dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu, hóa giá nộp vào ngân sách Nhà nước.

[14] Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

[15] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố L về tội danh, hình phạt đối với bị cáo và các nội dung khác là có căn cứ và phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[16] Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 201, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36, Điều 47, Điều 48, Điều 50 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, các Điều 292, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Ngô Hồng L phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Ngô Hồng L 01 (một) năm 03 (ba) tháng cải tạo không giam giữ; thời hạn tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Ngô Hồng L cho Ủy ban nhân dân phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người bị kết án hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

3. Về biện pháp tư pháp:

  • 3.1. Truy thu số tiền gốc bị cáo Ngô Hồng L cho vay lãi nặng là 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước, trong đó:
    • Truy thu bị cáo Ngô Hồng L số tiền: 56.000.000 đồng (năm mươi sáu triệu đồng)
    • Truy thu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên đến vụ án bà Đàm Thị M số tiền là 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng).
  • 3.2. Truy thu bị cáo Ngô Hồng L số tiền lãi đã thu tương ứng với mức 20%/năm theo quy định là 1.420.274 đồng (một triệu bốn trăm hai mươi nghìn hai trăm bẩy mươi tư đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
  • 3.3. Buộc bị cáo Ngô Hồng L phải trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án số tiền lãi đã thu vượt mức 20%/năm chưa trả, cụ thể:
    • Trả lại cho bà trả bà Đinh Ngọc V số tiền 4.067.397 đồng (bốn triệu không trăm sáu mươi bẩy nghìn ba trăm chín mươi bẩy đồng);
    • Trả lại cho bà Đàm Thị M số tiền 9.809.590 đồng (chín triệu tám trăm linh chín nghìn năm trăm chín mươi đồng);
    • Trả lại cho ông Lương Văn T số tiền 2.802.740 đồng (hai triệu tám trăm linh hai nghìn bẩy trăm bốn mươi đồng).

Khi Bản án có hiệu lực pháp luật, kể ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

4. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu, hóa giá nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím, số imei 355656666202452, lắp sim số 0923.922.666 và số 0966.902.989.

(Vật chứng nói trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố L, tỉnh Lạng Sơn và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn).

5. Về án phí:

Buộc bị cáo Ngô Hồng L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước;

6. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo Ngô Hồng L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - Công an tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND TP. Lạng Sơn, T. Lạng Sơn;
  • - Công an TP. Lạng Sơn, T. lạng Sơn;
  • - CCTHADS TP. Lạng Sơn, T. Lạng Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - NCQLNVLQ;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hứa Thị Thanh Xuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HS-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 24/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Hồng L - Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger