TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 14/2025/HS-PT
Ngày 21 tháng 02 năm 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Sơn.
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Văn Sỹ và ông Vũ Văn Mạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Bích Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Mầu Mai Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 147/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo Đoàn Văn Q, Đoàn Công T do có kháng cáo của bị hại và Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2024/HSST ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Các bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Đoàn Văn Q (tên gọi khác: Không), sinh năm 1981; Nơi cư trú: Thôn D, xã H, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Công T1, sinh năm 1952 và con bà Đào Thị X, sinh năm 1953; có vợ là Trần Thị T2, sinh năm 1982 và có 02 con (lớn sinh năm 2005 và nhỏ sinh năm 2007).
Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, (có mặt).
Họ và tên: Đoàn Công T (tên gọi khác: Không), sinh năm 1983; Nơi cư trú: Thôn D, xã H, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Công T1, sinh năm 1952 và con bà Đào Thị X, sinh năm 1953; có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1985 và có 02 con (lớn sinh năm 2006 và nhỏ sinh năm 2015).
Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Bị hại có kháng cáo: Ông Đoàn Công B, sinh năm 1960; Địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).
- Kháng nghị phúc thẩm số 1757/QĐ-VKS-P7 ngày 19 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 10 phút ngày 13/02/2024, Đoàn Văn Q đang ở nhà tại thôn D, xã H, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc thì nghe thấy chị Nguyễn Thị H (vợ của T) đang cãi nhau với bà Hà Thị N tại cánh đồng cấy lúa gần khu vực nhà mình nên Q gọi điện thoại cho T (em trai Q) và nói “Thấy vợ chú với bà N cãi nhau lúa má ở dưới ruộng ấy”. Khi nghe Q nói vậy thì T đi ra khu vực ruộng cấy của gia đình nơi chị H đang cãi, chửi nhau với bà N. Lúc đi đến cổng nhà ông Đoàn Công B (chồng bà N và là chú ruột của T, Q) thì gặp ông B đang đứng ở đó, T nghe thấy ông B nói với là Đoàn Thanh B1 (cháu nội ông B) “Mày về cầm cho tao con dao” thì T có nói với ông B “Ông xem vợ ông (bà N) nhổ lúa vợ tôi lên như thế nào”, ông B và T đứng nói chuyện rồi cãi nhau lời qua tiếng lại một lúc thì cả hai người cùng đi ra bãi chuối giáp với cánh đồng cấy lúa, cách vị trí nơi bà N đang cãi nhau với chị H khoảng từ 90m đến 100m. Tính hô to “dìm cho nó chết, chết luôn đi”, ông B nói lại với T “đấy mày xuống mà dìm”. Lúc này, Q đang ở nhà nghe thấy T với ông B cãi chửi nhau to tiếng ở bãi chuối thì đi bộ xuống vị trí của hai người, khi đi qua đống củi khô của gia đình thì Q nhặt lấy 01 đoạn gậy gỗ (loại gỗ bạch đàn) dài 1,3m, hình trụ tròn, đường kính trung bình là 3,2cm và cầm ở tay. Khi Q vừa đi đến thì thấy B1 là cháu nội ông B mang 01 dao quắm chuôi bằng gỗ tròn dài 55 x4cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 25x4cm chạy xuống đưa cho ông B. Q nghĩ ông B sẽ dùng dao này chém T nên vứt đoạn gậy gỗ xuống đất rồi lao đến từ phía sau quằng tay trái qua cổ vật ông B ngã xuống nền đất, Q tiếp tục vật lộn giằng co với ông B trên nền đất; còn ông B tay phải vẫn cầm con dao quắm nên bị mũi dao cứa vào cằm rách da chảy máu, Q tiếp tục ôm giữ ông B rồi dùng tay phải đấm vào vùng bụng, sườn của ông B. Khi thấy ông B với Q vật lộn nhau thì T lao đến giúp sức cho Q, T giằng lấy con dao trong tay ông B vứt ra xa một đoạn, sau đó T nhặt đoạn gậy gỗ mà trước đó Q vứt ở dưới đất dùng chiếc gậy gỗ này vụt 01 cái trúng vào bắp cẳng chân bên phải ông B, ông B bị đau kêu lên “ối giời ôi” rồi nằm ra đất. Thấy vậy Q nói với T “thôi không vụt nữa” rồi cả hai không đánh ông B nữa. Lúc này, bà N, chị H cũng chạy đến nơi thì Q buông ông B ra. Sau đó Q và T đi về nhà; còn ông B được gia đình đưa đến Trạm y tế xã H khám, băng bó vết thương rồi chuyển đến Trung tâm y tế huyện S và Bệnh viện Q1 điều trị từ ngày 13/02/2024 đến
26/02/2024 ra viện về nhà, hiện nay thương tích đã ổn định.
Sau khi nhận được đơn trình báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã tổ chức khám nghiệm hiện trường, xác minh thương tích, ghi lời khai bị hại, người làm chứng và người liên quan theo quy định pháp luật.
* Kết quả giám định thương tích:
Tại văn bản số 78/KLTTCT-PYVP ngày 23/02/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh V xác định thương tích của ông Đoàn Công B bao gồm: Vết thương phần mềm vùng cằm lệch trái, kích thước nhỏ xếp 03%; Gãy xương sườn V bên trái xếp 02%; Gãy 1/3 trên xương mác phải xếp 04%; Cơ chế hình thành vết thương gãy xương sườn V và xương mác có thể do vật tày gây nên; Vết thương phần mềm vùng cằm lệch trái có thể do vật sắc gây nên.
Tổng tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Đoàn Công B tại thời điểm giám định là 09% (không chín phần trăm).
Tại văn bản số 112/KLTTCT-PYVP ngày 21/3/2024 (giám định bổ sung) của Trung tâm Pháp y tỉnh V, kết luận thương tích của ông Đoàn Công B bao gồm: Sẹo vết thương phần mềm vùng cằm lệch trái, kích thước nhỏ xếp 03%; Gãy xương sườn V bên trái xếp 02%; Gãy 1/3 trên xương mác phải xếp 04%; Gãy xương sườn VI bên trái không có căn cứ xếp tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Cơ chế hình thành vết thương gãy xương sườn V và xương mác có thể do vật tày gây nên; Sẹo vết thương phần mềm vùng cằm lệch trái có thể do vật sắc gây nên.
Tổng tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Đoàn Công B tại thời điểm giám định là 09% (không chín phần trăm).
Tại văn bản số 103/KLTTCT-PYQG ngày 01/7/2024 (giám định lại) của V, kết luận về thương tích của ông Đoàn Công B gồm: Sẹo vùng cằm trái, kích thước nhỏ: 03%; Gãy cung bên xương sườn số V bên trái: 02%; Gãy cung bên xương sườn số VI bên trái: 02%; Gãy 1/3 trên xương mác bên phải: 04%. Cơ chế hình thành vết thương gãy xương sườn V, VI và 1/3 xương mác do vật tày tác động gây nên; Sẹo vùng cằm do vật có cạnh sắc tác động theo chiều từ trên xuống dưới gây ra; Gãy xương sườn số VI bên trái có liên quan đến chấn thương ngày 13/02/2024.
Tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể của ông Đoàn Công B là 11% (Mười một phần trăm) theo phương pháp cộng lùi.
* Về phần dân sự: Sau khi gây thương tích cho ông Đoàn Công B, các bị cáo Đoàn Văn Q và Đoàn Công T đến thăm hỏi, xin bồi thường thiệt hại nhưng gia đình ông B không đồng ý. Ông B yêu cầu các bị cáo Q, T phải bồi thường tổng số tiền là 150.000.000 đồng. Các bị cáo Đoàn Văn Q và Đoàn Công T chỉ đồng ý bồi thường cho ông Đoàn Công B số tiền là 50.000.000 đồng; quá trình giải quyết vụ án các bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 30.000.000 đồng để bồi thường cho ông B.
Quá trình Đoàn Văn Q xô xát, vật lộn nhau với ông Đoàn Công B ngày
13/02/2024, Q khai có bị ông B đấm vào mặt và cằm nhưng chỉ gây thương tích nhẹ, Q tự nguyện không đề nghị giám định sức khoẻ, không yêu cầu ông B phải bồi thường thiệt hại.
Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 49/2024/HS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Sông Lô đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Đoàn Văn Q và Đoàn Công T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Đoàn Văn Q 02 (Hai) năm 02 (Hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt bị cáo đi thi hành án.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Đoàn Công T 02 (Hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đoàn Công T cho UBND xã H, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 587; Điều 590; Điều 357; Điều 468 Bộ luật Dân sự: Buộc các bị cáo Đoàn Văn Q và Đoàn Công T phải liên đới bồi thường cho ông Đoàn Công B tổng số tiền 50.000.000 đồng. Xác nhận bị cáo Đoàn Văn Q đã nộp số tiền 10.000.000 đồng, bị cáo Đoàn Công T đã nộp số tiền 20.000.000 đồng để bồi thường cho bị hại B. Số tiền còn lại các bị cáo Đoàn Văn Q và Đoàn Công T phải bồi thường cho bị hại B là 20.000.000 đồng, kỷ phần của mỗi bị cáo là 10.000.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04 tháng 10 năm 2024, bị cáo Đoàn Văn Q có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo; ngày 04 tháng 10 năm 2024 ông Đoàn Công B là bị hại kháng cáo đề nghị tăng hình phạt và áp dụng hình phạt tù đối với cả hai bị cáo; tăng bồi thường buộc các bị cáo Q, T phải bồi thường tổng số tiền 150.000.000 đồng.
Quyết định số: 1757/QĐ-VKS-P7 ngày 19 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã Kháng nghị phúc thẩm Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2024/HS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Sông Lô với nội dung: Hành vi gây thương tích đối với bị hại Đoàn Công B do các bị cáo Đoàn Văn Q và Đoàn Công T thực hiện đã phạm vào điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015. Các cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm đã điều
tra, truy tố, xét xử các bị cáo Đoàn Văn Q và Đoàn Công T theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là không đảm bảo căn cứ theo quy định của pháp luật; đồng thời cấp sơ thẩm phân hóa vai trò, mức độ thực hiện tội phạm để lượng hình là chưa phù hợp. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc hủy Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Sông Lô; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Đoàn Văn Q và Đoàn Công T theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị hại Đoàn Công B và bị cáo Đoàn Văn Q vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tại phiên tòa có quan điểm vẫn giữ nguyên Quyết định kháng nghị số 1757/QĐ-VKS-P7 ngày 19 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị Hội đồng xét xử Hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại các bị cáo Đoàn Văn Q và Đoàn Công T theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phần tranh luận của phiên tòa phúc thẩm, ông Đoàn Công B là bị hại có quan điểm về tội danh đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật; về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc xử cho các bị cáo Đoàn Văn Q và Đoàn Công T hưởng án treo, cải tạo tại địa phương; về trách nhiệm dân sự ông Đoàn Công B vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Sau khi bị hại Đoàn Công B có đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo hưởng án treo, cải tạo tại địa phương thì Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc thay đổi quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; khoản 2 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự; Sửa Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Sông Lô xét xử các bị cáo Đoàn Văn Q, Đoàn Công T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 và cho các bị cáo hưởng án treo, cải tạo tại địa phương. Về trách nhiệm dân sự ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo Đoàn Văn Q và Đoàn Công T về việc bồi thường cho bị hại Đoàn Công B tổng số tiền 80.000.000 đồng.
Các bị cáo Đoàn Văn Q và Đoàn Công T tỏ ra ăn năn hối hận với hành vi đã thực hiện, tha thiết xin lỗi bị hại và mong bị hại Đoàn Công B bỏ qua lỗi lầm đã thực hiện, đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo hưởng án treo, cải tạo tại địa phương để có điều kiện chăm sóc gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Đoàn Văn Q; kháng cáo của bị hại Đoàn Công B và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc
trong thời hạn luật định, hợp lệ được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận xem xét giải quyết.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, VKSND huyện Sông Lô, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo; bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.
[3]. Về nội dung: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo Đoàn Văn Q và Đoàn Công T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại Đoàn Công B, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với kết luận giám định của cơ quan chuyên môn; lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được cơ quan điều tra thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở để kết luận: Xuất phát từ mâu thuẫn trong việc tranh chấp đất đai của hai gia đình dẫn đến xảy ra việc cãi chửi nhau giữa bà Hà Thị N (vợ ông B) với chị Nguyễn Thị H (vợ của Đoàn Công T) vào hồi 17 giờ 10 phút, ngày 13/02/2024 tại cánh đồng cấy lúa gần khu vực gia đình Q. Do thấy việc cãi chửi nhau giữa bà N với chị H nên Q gọi điện thông báo cho Đoàn Công T (chồng chị H, em trai Q) biết. Khi được Q thông báo sự việc thì Đoàn Công T đến nơi bà N đang cãi nhau với chị H, vì cả T và ông B đều bênh vợ mình dẫn đến việc T với ông B cũng cãi chửi nhau. Nghe thấy ông B cãi chửi nhau với T thì Q đi bộ xuống khu vực hai người đang cãi nhau, trên đường đi Q nhặt một đoạn gậy gỗ tròn (loại gỗ bạch đàn tại đống củi gia đình Q). Lúc đến nơi Q thấy cháu B1 (cháu nội ông B) chạy đến đưa ông B 01 con dao quắm chuôi gỗ, do sợ ông B sẽ dùng dao này chém T nên Q vứt bỏ gậy gỗ rồi lao vào vật nhau với ông B mục đích lấy dao của ông B. Quá trình vật lộn, con dao trên tay ông B cứa vào cằm làm rát da, chảy máu ông B, Q tiếp tục dùng tay đấm vào bụng, vào sườn ông B. Thấy việc vật lộn nhau giữa ông B với Q thì T lao đến giằng dao quắm trong tay ông B ném bỏ dao ra xa rồi dùng gậy gỗ do Q vứt dưới đất trước đó vụt vào bắp cẳng chân ông B. Khi thấy ông B kêu đau thì Q bảo T dừng lại không đánh ông B nữa rồi cả hai bỏ về nhà. V kết luận ông Đoàn Công B bị tổn thương 11% sức khỏe.
Căn cứ vào lời khai của bị hại Đoàn Công B, lời khai của các bị cáo Đoàn Văn Q, Đoàn Công T tại phiên tòa và những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Đoàn Văn Q, Đoàn Công
B về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội đúng pháp luật không oan sai.
[4]. Xét Kháng nghị số 1757/QĐ-VKS-P7 ngày 19/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
[4.1]. Các bị cáo Đoàn Văn Q và Đoàn Công T mặc dù không có sự bàn bạc về việc cùng nhau tấn công gây thương tích cho ông Đoàn Công B từ trước. Tuy nhiên, khi Q nghe thấy việc cãi chửi nhau giữa bà N (vợ ông B) với chị H (vợ của T) thì Q gọi điện thông báo cho Đoàn Công T biết. Do ông Đoàn Công B bênh bà N, còn Đoàn Công T bênh chị H đã dẫn đến việc cãi chửi nhau giữa ông B với T. Khi Q thấy việc cãi chửi nhau giữa ông B với T liền đi bộ đến chỗ hai người, trên đường đi Q nhặt 01 đoạn gậy gỗ bạch rồi cầm theo. Lúc đến nơi, Q nhìn thấy ông B đang cầm dao quắm trên tay, còn T tay không, vì sợ ông B sẽ dùng dao chém T nên Q bỏ gậy gỗ chạy đến ôm cổ vật ngã ông B xuống đất. Quá trình vật lộn, giằng co giữa Q với ông B làm dao trên tay phải ông B cứa vào cằm ông B dẫn đến rách da, chảy máu. Sau đó, Q tiếp tục ôm, giữ ông B rồi dùng tay đấm vào bụng, vào sườn ông B. Tính chứng kiến việc vật lộn, giằng co giữa ông B với Q thì lao đến giằng được dao quắm từ tay ông B ném bỏ ra xa, rồi T nhặt đoạn gậy gỗ Q bỏ lại trước đó vụt vào bắp cẳng chân ông B. V kết luận ông Đoàn Công B bị tổn thương 11 % sức khỏe. Cụ thể các thương tích bị hại Bẩy gồm: Thương tích vùng cằm trái do dao gây ra là 03% cơ chế hình thành vết thương do vật có cạnh sắc tác động theo chiều từ trên xuống dưới gây ra; thương tích do gãy cung bên xương sườn số V bên trái 02%; thương tích gãy cung bên xương sườn số VI bên trái 02%; thương tích gãy 1/3 trên xương mác bên phải 04%. Cơ chế hình thành vết thương gãy xương sườn V, VI và 1/3 xương mác do vật tày tác động gây ra.
Như vậy, ngay từ ban đầu Quân không có mục đích đánh, gây thương tích cho ông B thể hiện bằng việc mặc dù có gậy gỗ trong tay nhưng Q không dùng gậy này tấn công ông B mà vứt bỏ gậy lao vào dùng tay không ôm cổ ông B nhằm mục đích tước dao của ông B để ông B không chém T. Quá trình vật lộn giữa Q với ông B thì dao trên tay ông B cứa vào cằm ông B gây thương tích; khi vật nhau với ông B thì Q có hành vi dùng tay đấm vào bụng, vào sườn ông B; còn T đã tiếp nhận ý chí của Q lao vào tước dao của ông B rồi dùng gậy gỗ Q mang đến tấn công gây thương tích cho ông B. Vì vậy, Q và T phải chịu trách nhiệm đối với các thương tích gây ra cho ông B. Trong các thương tích của ông B thì có thương tích nguyên nhân do Q, T gây ra và có thương tích nguyên nhân do quá trình vật lộn nhau giữa ông B với Q, T tạo ra không phải do Q, T cố ý. Cụ thể đó là: Thương tích vùng cằm trái là 03% được cơ quan chuyên môn kết luận cơ chế hình thành vết thương do vật có cạnh sắc tác động theo chiều từ trên xuống dưới là do quá trình vật lộn nhau giữa Q với ông B gây ra mà vật gây thương tích chính là dao quắm của ông B cứa vào cằm, không phải do Q và T cố
ý gây ra; các thương tích còn lại gồm gãy cung bên xương sườn số V bên trái 02%; gãy cung bên xương sườn số VI bên trái 02%; gãy 1/3 trên xương mác bên phải 04% được cơ quan chuyên môn kết luận cơ chế hình thành vết thương gãy xương sườn V, VI và 1/3 xương mác do vật tày tác động gây ra, không phải do hành vi của Đoàn Văn Q, Đoàn Công T tạo thành. Các thương tích do gãy cung bên xương sườn số V, VI, gãy 1/3 trên xương mác bên phải của ông B phù hợp với hành vi do Đoàn Văn Q, Đoàn Công T thực hiện là Q dùng tay đấm vào bụng, vào sườn ông B tạo nên thương tích gãy xương sườn V, VI; còn T dùng gậy gỗ tấn công cẳng chân ông B tạo nên thương tích gãy 1/3 xương mác. Tổng hợp các thương tích gãy cung xương sườn V, VI bên phải, gãy 1/3 trên xương mác bên phải do Q, T gây ra là 08% và quá trình thực hiện tội phạm các bị cáo đã sử dụng gậy gỗ là hung khí nguy hiểm nên hành vi của các bị cáo Đoàn Văn Q và Đoàn Công T đã phạm vào điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015. Vì vậy các cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm đã điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo Đoàn Văn Q và Đoàn Công T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 là không đúng quy định của pháp luật. Do vậy, kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc với nội dung hành vi do các bị cáo Đoàn Văn Q và Đoàn Công T thực hiện đối với bị hại Đoàn Công B đã phạm vào điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[4.2] Xét về vai trò, vị trí của các bị cáo Đoàn Văn Q, Đoàn Văn T3 trong vụ án; Hội đồng xét xử thấy rằng: Mặc dù Q không có mục đích và bàn bạc gì với T3 từ trước về việc tấn công gây thương tích cho ông B nhưng khi Q vật lộn nhau với ông B, dùng tay đấm vào vùng bụng, vào sườn ông B thì T3 đã tiếp nhận ý chí rồi dùng gậy gỗ cùng Q tham gia đánh ông B. Vì vậy, các bị cáo Q, T3 đều tham gia với vai trò là người trực tiếp thực hiện tội phạm, trong đó Q trực tiếp dùng tay đấm vào vùng bụng, vào sườn ông B gây thương tích theo kết luận giám định là 04% sức khỏe; còn bị cáo T3 dùng gậy gỗ do Q mang đến vụt vào bắp cẳng chân phải của ông B gây thương tích theo kết luận giám định là 04% sức khỏe. Hậu quả do các bị cáo Đoàn Văn Q và Đoàn Công T gây thương tích cho ông B đều là 04% sức khỏe bằng nhau nhưng vì Q là người gọi điện cho T đến để tham gia đánh nhau, Q đã chuẩn bị hung khí là gậy gỗ, đánh ông B trước; còn T tham gia đánh ông B sau do tiếp nhận ý chí của Q nên có vai trò thấp hơn Q. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào tính chất, mức độ thực hiện tội phạm, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra để xác định bị cáo Đoàn Văn Q là người giữ vai trò cao hơn bị cáo Đoàn Công T là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật. Do vậy, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc với nội dung cấp sơ thẩm phân hóa vai trò, mức độ thực hiện tội phạm của các đồng phạm để lượng hình là chưa phù hợp không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[5]. Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Đoàn Văn Q và đề nghị của bị hại Đoàn Công B nội dung cho các bị cáo hưởng án treo, cải tạo tại địa phương; Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo Đoàn Văn Q, Đoàn Công T đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác và trật tự an toàn công cộng được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy cần xử lý nghiêm nhằm mục đích giáo dục riêng, phòng ngừa chung, phục vụ tốt nhiệm vụ giữ vững an ninh trật tự tại địa phương và làm gương cho người khác. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng xem xét, cân nhắc tính chất, mức độ thực hiện tội phạm, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò vị trí của các bị cáo trong vụ án và thương tích của bị hại thấy rằng:
Về vai trò của các bị cáo trong việc thực hiện tội phạm thì bị cáo Đoàn Văn Q có vai trò chính, còn bị cáo Đoàn Công T có vai trò sau như đã nhận định tại phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trước khi phạm tội các bị cáo Q, T là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa các bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi đã thực hiện; sau khi sự việc xảy ra các bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 30.000.000 đồng để bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại. Các bị cáo Q, T được bị hại Đoàn Công B đề nghị cho hưởng án treo, cải tạo tại địa phương. Vì vậy các bị cáo Q, T được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tình tiết tăng nặng trách niệm hình sự: Các bị cáo Đoàn Văn Q và Đoàn Công T không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Sau khi xem xét, cân nhắc tính chất, mức độ thực hiện tội phạm, vai trò vị trí của các bị cáo trong vụ án; các tính tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Trong vụ án này, các bị cáo Q, T là anh em ruột và có quan hệ với bị hại Đoàn Công B là chú cháu ruột trong gia đình, vì mâu thuẫn nên các bị cáo mới phạm tội; Bị hại Đoàn Công B cũng có lỗi khi mang dao đến hiện trường làm bị cáo Q hiểu nhầm là bị hại B sẽ dùng dao này chém bị cáo T nên mới dẫn đến sự việc vật lộn rồi đánh nhau giữa hai bên gây thiệt hại về sức khỏe đối với bị hại B. Hiện nay giữa gia đình các bị cáo với gia đình bị hại B đang tồn tại mâu thuẫn về tranh chấp đất đai, lại có mối quan hệ trong gia đình là chú cháu ruột, nếu chỉ vì việc Q, T gây thiệt hại cho ông B 08% sức khỏe mà buộc các bị cáo Q, T phải chấp hành hình phạt tù thì mâu thuẫn giữ hai bên lại càng gia tăng, khó hóa giải. Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm các bị cáo đã tự nguyện nộp toàn bộ số tiền bồi thường theo quyết định về bồi thường của Tòa án cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo
lại tự nguyện bồi thường thêm cho bị hại số tiền 30.000.000 đồng; các bị cáo Q, T có thái độ ăn năn hối cải, tha thiết xin lỗi bị hại và được bị hại đề nghị cho các bị cáo hưởng án treo, cải tạo tại địa phương. Xét thấy, các bị cáo Đoàn Văn Q và Đoàn Công T được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào lại có mối quan hệ gia đình với bị hại nên thấy không cần áp dụng hình phạt tù mà cho hưởng án treo, cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa tội phạm nói chung. Việc cho các bị cáo Đoàn Văn Q và Đoàn Công T hưởng án treo, cải tạo tại địa phương thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội lần đầu, khai báo thành khẩn thật sự tỏ ra ăn năn hối cải, phù hợp với hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao về áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo. Do vậy, kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Đoàn Văn Q và đề nghị cho các bị cáo hưởng án treo của ông Đoàn Công B là có căn cứ được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[6]. Xét kháng cáo đề nghị tăng bồi thường của bị hại Đoàn Công B; Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Các bị cáo Đoàn Văn Q và Đoàn Công T đã thực hiện hành vi xâm phạm sức khỏe của bị hại Đoàn Công B trái pháp luật nên việc bị hại yêu cầu bồi thường là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật cần chấp nhận. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thương tích của bị hại do các bị cáo gây ra là 08% mà bị hại yêu cầu các bị cáo phải bồi thường tổng số tiền 150.000.000 đồng là không phù hợp với thực tế thiệt hại xảy ra và không đúng quy định tại các Điều 584, Điều 585; Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thu thập khách quan, đúng pháp luật và ghi nhận sự tự nguyện về bồi thường của các bị cáo về việc bồi thường cho bị hại Đoàn Công B số tiền 50.000.000 đồng là phù hợp quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Đoàn Văn Q và Đoàn Công T tự nguyện bồi thường thêm cho bị hại Đoàn Công B số tiền 30.000.000 đồng (trong đó bị cáo Q bồi thường 20.000.000 đồng và bị cáo T bồi thường 10.000.000 đồng) so với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm thành tổng số tiền phải bồi thường cho bị hại Đoàn Công T là 80.000.000 đồng. Xét thấy, việc tự nguyện bồi thường đối với bị hại là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm ghi nhận.
[7]. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xét xử các bị cáo Đoàn Văn Q và Đoàn Công T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 và cho các bị cáo hưởng án treo là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật cần chấp nhận.
[8]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo, bị hại không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Đoàn Văn Q, kháng cáo của bị hại Đoàn Công B và một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2024/HS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.
Tuyên bố các bị cáo Đoàn Văn Q và Đoàn Công T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đoàn Văn Q 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “cố ý gây thương tích” cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đoàn Công T 01 (Một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao các bị cáo Đoàn Văn Q và Đoàn Công T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp các bị cáo Đoàn Văn Q và Đoàn Công T thay đổi về nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào các Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587, Điều 590, Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo Đoàn Văn Q và Đoàn Công T về việc liên đới bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại Đoàn Công B tổng số tiền 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng). Xác nhận các bị cáo Đoàn Văn Q và Đoàn Công T đã nộp số tiền 50.000.000 đồng để bồi thường cho bị hại Đoàn Công B. (Trong đó ở giai đọan xét xử sơ thẩm các bị cáo nộp số tiền 30.000.000 đồng và ở giai đoạn xét xử phúc thẩm các bị cáo nộp số tiền 20.000.000 đồng).
Số tiền còn lại các bị cáo Đoàn Văn Q và Đoàn Công T phải liên đới bồi thường cho bị hại Đoàn Công B là 30.000.000 đồng. Trong đó bị cáo Đoàn Văn Q phải bồi thường cho bị hại Đoàn Công B là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng); bị cáo Đoàn Công T phải bồi thường cho bị hại Đoàn Công B là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất được quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Sơn |
Bản án số 14/2025/HS-PT ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự phúc thẩm về tội cố ý gây thương tích
- Số bản án: 14/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Phùng X và đồng phạm, phạm tội Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ
