Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HS-ST

Ngày: 06-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đinh Hải Toản

Thẩm phán: ông Phạm Duy Hải

Các Hội thẩm nhân dân: ông Vũ Anh Tuấn; bà Đỗ Thị Xanh; ông Trần Văn Sinh.

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Đức Bình - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Tạ Thị Minh Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

- Họ và tên: Đàm Quang M; tên gọi khác: không; sinh ngày 13/10/1994, tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: tổ F, khu F, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đàm Quang H (đã chết) và bà Nguyễn Thị D; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo đầu thú ngày 13/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo: bà Nguyễn Minh T, Luật sư Công ty L, Đoàn Luật sư tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: anh Đào Xuân Hoài, sinh năm 1992 (đã chết); đại diện theo pháp luật: bà Nguyễn Thị V; sinh năm 1939; nơi cư trú: tổ A, khu T, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt (có đơn xin xử án vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1969; nơi cư trú: tổ F, khu F, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

+ Anh Phạm Trung B, sinh năm 1987; nơi cư trú: tổ G, khu G, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.

+ Chị Đoàn Thị R; sinh năm 1976; nơi cư trú: tổ F, khu F, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa;

+ Chị Bùi Thị T1, sinh năm 1992; nơi cư trú: tổ G, khu G, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.

+ Anh Đàm Quang T2, sinh năm 1962; nơi cư trú: tổ F, khu F, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 12/6/2024, Đàm Quang M ngồi uống bia một mình ở quán bia tại khu vực ngã ba H, sau đó M đi về nhà ở tổ F, khu F, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, M muốn rủ anh Đào Xuân H1 (sinh năm 1992, trú tại phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh) đi uống bia tiếp. M đi bộ từ nhà đến phòng trọ của anh H1 tại ngõ F, đường T (thuộc tổ G, khu G, phường H, thành phố H), cách nhà M khoảng 250m. Khi đến nơi, M gặp anh Phạm Trung B (sống tại phòng đầu tiên của dãy trọ anh H1 thuê). M hỏi anh B phòng trọ của anh H1 ở đâu. Anh B hỏi M tìm anh H1 có việc gì, thì M nói đùa là tìm anh H1 để đòi nợ. Thực tế, anh H1 không nợ tiền M. Lúc này, anh H1 đi từ phòng trọ ra, nghe thấy M nói như vậy, thì nói là anh H1 không nợ gì M. Giữa M và anh H1 xảy ra cãi nhau, thách thức đánh nhau nhưng được anh B can ngăn, nên M đi về nhà, còn anh H1 đi về phòng trọ.

Một lúc sau, do bực tức nên anh H1 lấy một con dao dài 33cm, lưỡi dao dài 23cm, cán bằng gỗ, hình trụ tròn, lưỡi dao bằng kim loại vát nhọn một cạnh sắc, đuổi theo M. Lúc này, M đang đi bộ từ phòng trọ của anh H1 về nhà, khi đi đến đầu ngõ F đường T, M nhìn thấy anh H1 cầm dao đi bằng đường dưới về phía nhà M (đường từ nhà trọ của anh H1 về nhà M có 02 đường, M đi đường trên đồi, anh H1 đi đường phía dưới).

Anh H1 cầm dao về đến nhà M trước nhưng không gặp M. Tại đây, anh H1 gặp bà Đoàn Thị R (thím của M). Thấy bà R, anh H1 vất con dao ở gốc cây táo trước cửa nhà bà R rồi nói chuyện M sang rủ anh đi uống bia, đòi tiền anh H1, làm cho anh chị ở khu nhà trọ hiểu lầm anh H1. Bà R khuyên anh H1 đi về nhà. Anh H1 tìm con dao vừa ném đi nhưng không thấy nên đi về. Một lúc sau, M đi về đến nhà, biết anh H1 cầm dao sang nhà để tìm mình thì đi vào trong bếp, lấy 01 con dao (loại dao bầu, dài 36cm, bản rộng nhất 7,5cm, cán bằng gỗ, lưỡi dạo bằng kim loại, mũi dao nhọn), dắt dao vào cạp quần bên phải, kéo áo phủ qua cán dao, rồi quay lại phòng trọ của anh H1, mục đích cầm dao đi đế đánh, chém anh H1 khi cần. Khoảng 20 giờ 50 phút cùng ngày, M đi đến đầu khu trọ thì gặp anh H1 từ trong phòng trọ đi ra, trên tay không cầm theo vật gì. Hai bên đứng đối diện và tiếp tục cãi chửi nhau. Lúc này, M dùng tay phải rút con dao ở cạp quần ra, đâm về phía bụng của anh H1. Thấy M đâm, anh H1 đưa tay trái ra đỡ nhưng không được, nên bị lưỡi dao cắt vào cẳng tay trái và vào vùng bụng của anh H1. Anh H1 bị đâm nên quay người bỏ chạy, thì bị M vung dao chém với một nhát theo hướng từ phải sang trái, trúng vào vùng vai phải của anh H1. M tiếp tục đuổi theo anh H1 một đoạn vào trong ngõ F, đường T thì dừng lại rồi đi về nhà. Anh H1 bị thương được đưa đi Bệnh viện B1 cấp cứu, đến ngày 14/6/2024 thì tử vong.

Sau khi đâm, chém anh H1, M đi bộ về đến nhà, kể với ông Đàm Quang T2 (bác ruột của M) về việc M vừa dùng dao đâm anh H1, ngày 13 tháng 6 năm 2024 Manh đầu thú và giao nộp con dao bầu đâm anh H1.

Kết quả khám nghiệm hiện trường: tại ngõ F, đường T, thuộc tổ G, khu G, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Ngõ rộng 5,4m, cách đầu đường T 3,9m có 01 ngách. Đầu ngách có 01 cột điện. Vị trí Đàm Quang M dùng dao gây thương tích cho anh Đào Xuân H1 là tại vị trí cách cột điện 11,1m về phía Đông Bắc. Trên mặt đường có dấu vết máu dạng nhỏ giọt trong diện (4,7x1,5)m cách cột điện 8,9m. Tại vị trí cuối cùng của vết máu có 01 chiếc dép nhựa chân trái màu xanh, trên dép có chữ “VIP”. Từ vị trí chiếc dép đến vị trị máu nhỏ giọt ở ngách dân sinh là 110m. Mở rộng hiện trường về phía T đến nhà ông Đàm Quang T2 (thuộc tổ F, khu F, phường H), xác định vị trí M lấy dao là tại khoang giữa dưới gầm bàn bếp nhà ông T2. Cơ quan điều tra đã thu giữ các mẫu máu và 01 chiếc dép tại hiện trường.

Kết quả khám nghiệm tử thi anh Đào Xuân H1 xác định: trên cơ thể có 03 vết thương sắc gọn, trong đó có 01 vết thương thấu bụng. Cụ thể: Có 01 vết thương hình khe dài 7,5cm bên trái đường trắng giữa trên rốn, nằm dọc so với trục cơ thể, bờ mép sắc gọn, có 1 góc nhọn hơn ở phía dưới, cách đường trắng trên rốn 3cm, hướng từ trước về sau, từ phải sang trái, từ trên xuống dưới (vùng bụng bên trái có vết đặt ống dẫn lưu). Vùng phía trên hõm nách phải có 01 vết thương rách da KT (6x0,8)cm, bờ mép sắc gọn, có một góc nhọn hơn ở phía trên, hướng từ dưới lên trên, từ sau về trước. 1/3 trên mặt trước cẳng tay trái có vết rách da đã được xử lý khâu dài 9cm, bờ mép gọn, hướng từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong, đứt gần rời 1 tĩnh mạch nông. Khuỷu tay trái và mặt trước ngoài đầu gối chân phải có vết xước da.

Mổ ngực bụng: xác định khoang màng phổi mỗi bên có 300ml dịch hồng. Hai phổi xẹp, có màu hồng nhạt. Trong bao tim có ít dịch, bề mặt cơ tim có chấm xuất huyết. Trong ổ bụng có 300ml dịch hồng. Vùng bờ thùy gan trái có vết rách nhu mô dài 03cm, bờ mép sắc gọn. Thủng mặt trước, mặt sau dạ dày lần lượt là 7cm và 5cm. Đứt đuôi tụy. Không còn lách. Đứt rời tĩnh mạch thận trái, đứt rời niệu quản trái. Vùng bên trái cột sống ngang đốt sống thắt lưng 12 có vết rách cơ thắt lưng, được xử trí nhét meche và gạc lớn cầm máu.

Kết luận giám định số 907 ngày 19/6/2024, của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận nguyên nhân anh Đào Xuân H1 tử vong là: sốc không phục hồi do vết thương vùng bụng, gây đứt tĩnh mạch thận trái, đứt tụy, thủng dạ dày, đứt niệu quản trái. Vết thương vùng bụng trái nạn nhân hình thành do vật nhọn, có một lưỡi sắc, cứng, mỏng tác động trực tiếp theo hướng từ trước về sau, từ phải sang trái, từ trên xuống dưới. Vết thương vùng phía trên hõm nách phải hình thành do vật sắc, cứng, mỏng tác động trực tiếp theo hướng từ dưới lên trên, từ sau về trước. Vết thương vùng 1/3 trên mặt trước cẳng tay trái hình thành do vật sắc, cứng, mỏng tác động trực tiếp theo hướng từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong. Con dao gửi giám định có thể gây ra các vết thương của nạn nhân.

Kết luận giám định số 1043 ngày 08/7/2024, của Phòng K Công an tỉnh Q, xác định: trên lưỡi dao của con dao gửi giám định có dấu về máu của anh Đào Xuân H1. Trên cán dao của con dao gửi giám định có tế bào sinh học của Đàm Quang M. Dấu vết nghi máu thu tại hiện trường gửi giám định là máu của anh Đào Xuân H1.

Kết luận giám định số 344/KLGĐ ngày 02/12/2024, của V1, kết luận:

“Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định bị can Đàm Quang M có hội chứng nghiện chất gây ảo giác. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F16.2.

Tại các thời điểm trên bị can đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.

Kết quả rà soát, thu thập được hình ảnh tại Camera an ninh của Cửa hàng X, thuộc tổ F, khu F, phường H, M giải trình các hình ảnh như sau:

Vào lúc 20 giờ 33 phút 55 giây ngày 12/6/2024, anh Đào Xuân H1 đến tìm Đàm Quang M.

Đến 20 giờ 48 phút 18 giây ngày 12/6/2024, có hình ảnh M khai là giắt dao bầu trong cạp quần để đi tìm anh H1 giải quyết mâu thuẫn.

Đến 20 giờ 52 phút 49 giây ngày 12/6/2024, có hình ảnh M cầm dao bầu đi qua cửa hàng xăng dầu sau khi đã đâm anh H1.

Quá trình điều tra, Đàm Quang M đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. M còn khai khi gặp anh H1 hai người đứng cãi nhau. Anh H1 đe dọa đánh, giết bị cáo. Nghe vậy, M bực tức nên đã dùng dao đâm anh H1. Khi anh H1 bỏ chạy, do vẫn còn bực tức nên đã quyết tâm chém anh H1 lần thứ hai và tiếp tục đuổi theo, mục đích là xem anh H1 bị thương như thế nào, không phải để chém thêm. Con dao M dùng đâm anh H1 được mua tại chợ H2, thành phố H từ khoảng giữa năm 2023, dùng để thái thực phẩm. Bị cáo nhận thức được việc dùng dao đâm có thể gây ra cái chết cho người bị đâm. Tuy nhiên, do không kiềm chế được bản thân nên lúc đó đã thực hiện hành vi và hậu quả làm anh H1 tử vong. Trong quá trình điều tra, bị cáo đã nhờ gia đình đến bồi thường cho gia đình người bị hại.

Vật chứng thu giữ: thu giữ của Đàm Quang M 01 con dao dạng dao bầu dài 36cm, cán dao bằng gỗ tối màu, lưỡi dao han gỉ, dao có mũi nhọn, một cạnh sắc, bản rộng nhất của lưỡi dao là 7,5cm; thu giữ của bà Đoàn Thị R 01 con dao dài 33cm, cán dao bằng gỗ, hình trụ tròn, dài 10cm, thân dao dài 23cm, han rỉ, lưỡi dao sắc, mũi vát nhọn. Bà R trình bày, đây là con dao của anh H1 mang đến vứt ở cửa nhà bà.

Bản Cáo trạng số 609/CT-VKSQN-P2 ngày 30/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Đàm Quang M về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo thừa nhận bị truy tố, xét xử về tội “Giết người” là đúng người, đúng tội, không bị oan vì trong lúc bực tức, suy nghĩ nông nổi bị cáo đã có hành vi dùng dao đâm vào vùng ngực, vai và người của anh Đào Xuân H1 làm anh H1 tử vong. Bị cáo khẳng định lời khai tại cơ quan Công an là chính xác, khách quan, không bị đe dọa ép buộc.

Đại diện theo pháp luật của bị hại là bà Nguyễn Thị V vắng mặt tại phiên tòa, bà không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm vì gia đình bị cáo đã bồi thường số tiền 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng). Về hình phạt, bà V xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị D (mẹ của bị cáo M) vắng mặt tại phiên tòa. Bà đại diện cho gia đình đã bồi thường cho đại diện bị hại số tiền 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng). Bà D không có ý kiến gì về số tiền đã bồi thường thay cho M và không yêu cầu M phải trả lại số tiền này.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh: tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với kết luận điều tra, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Đàm Quang M phạm tội “Giết người”; áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đàm Quang M từ 18 đến 19 năm tù; xử lý vật chứng: đề nghị tiêu hủy 02 con dao, 01 chiếc dép nhựa và 01 chiếc quần đùi do không còn giá trị sử dụng và đề nghị xử lý án phí theo quy định của pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo có quan điểm: về tội danh, điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo Luật sư không có ý kiến gì. Đề nghị xem xét các tình tiết như bị cáo đâm chém anh H1 là bộc phát và nguyên nhân xuất phát từ một phần lỗi của anh H1; bị cáo bị hội chứng nghiện gây ảo giác, dễ kích động, bị cáo đã từng khám và chữa bệnh tại bệnh viện T3; bị cáo chưa có tiền án tiền sự; đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự; bị cáo ăn ăn hối cải, thành khẩn khai báo; bị cáo nhờ gia đình bồi thường cho đại diện bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Đề nghị xử phạt bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với xã hội.

Bị cáo không tranh luận và không có ý kiến, đề nghị gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Q, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo, Luật sư bào chữa, đại diện bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; bị cáo khẳng định lời khai nhận của mình trong quá trình điều tra là đúng sự thật, thừa nhận bị truy tố, xét xử về tội danh đã nêu và viện dẫn trong Cáo trạng là đúng người, đúng tội; phù hợp với các bản kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh Q và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, đã được làm rõ tại phiên tòa, do đó đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 20 giờ 50 phút ngày 12/6/2024, tại khu vực ngõ F, đường T, thuộc tổ G, khu G, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, do mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt, Đàm Quang M có hành vi dùng dao bầu đâm 01 nhát về phía vùng bụng của anh Đào Xuân H1. Anh H1 đưa tay trái ra đỡ thì bị thương ở tay và bị đâm vào bụng. Khi anh H1 bỏ chạy, M dùng dao chém tiếp 01 nhát vào vùng bả vai phải của anh H1. Hậu quả, làm anh H1 tử vong.

Nguyên nhân của vụ án xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống, bị cáo Đàm Quang M đã dùng dao đâm nhiều nhát vào vùng bụng, vai và người của anh Đào Xuân H1 làm anh H1 tử vong. Hành vi của bị cáo thể hiện tính côn đồ, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong điều kiện đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và phạm tội do lỗi cố ý. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” với tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 như bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã nêu là có căn cứ, đúng pháp luật. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật, mới có tác dụng giáo dục, cải tạo cũng như có tác dụng răn đe, giáo dục trong đấu tranh phòng chống tội phạm.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú; trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải; gia đình bị cáo đã bồi thường cho đại diện bị hại và được đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Ngoài ra bị cáo đã từng tham gia nghĩa vụ quân sự tại S – không quân 365 Bắc Giang. Do đó, xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần cho bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: đại diện bị hại là Nguyễn Thị V không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không xem xét.

[5] Về xử lý vật chứng:

Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm 01 con dao dạng dao bầu dài 36cm; 01 con dao dài 33cm; 01 chiếc dép nhựa, 01 quần đùi. Đây là vật chứng của vụ án có liên quan đến việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[6] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: bị cáo; đại diện bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: bị cáo Đàm Quang M phạm tội “Giết người”.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đàm Quang M 19 (mười chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/6/2024.

2. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 gói còn nguyên niêm phong bên trong có: 01 con dao dạng dao bầu dài 36cm, cán dao bằng gỗ tối màu; 01 con dao bằng kim loại dài 33cm, cán dao bằng gỗ hình trụ tròn dài; 01 chiếc dép nhựa chân trái màu xanh.

+ 01 quần đùi tối màu, cạp chun, dài 55cm, bản rộng quần 47cm, bị cắt đôi trong quá trình cấp cứu.

(Tình trạng vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng số 51 ngày 31/12/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC01) Công an tỉnh Q và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh và Biên bản giao nhận vật chứng số 55 ngày 22/01/2025 giữa Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q).

3. Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án: buộc bị cáo Đàm Quang M phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Án xử công khai, báo cho bị cáo; đại diện bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND Cấp Cao tại Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Cơ quan CSĐT - CA tỉnh Quảng Ninh;
  • - Cơ quan THAHS – CA tỉnh Quảng Ninh;
  • - TTG CA tỉnh Quảng Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu Văn phòng, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Hải Toản

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về hình sự (giết người)

  • Số bản án: 24/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đàm Quang M bị xét xử về tội "Giết người"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger