Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 24/2025/HSST

Ngày: 05/3/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Luyến

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Đình Rành;
  2. Ông Huỳnh Công Nhân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chính Việt Phương - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2025 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2025/HSST-QĐ ngày 20/02/2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Minh H, giới tính: nam, sinh năm 1994 tại Hà Nội; Nơi thường trú: Số I ngách D đường P, phường P, quận T, Thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú rõ ràng; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; con ông Lê Thanh M và con bà Hà Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27 tháng 9 năm 2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Lê Trọng L, sinh năm 1994; Địa chỉ: Số C L, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Bùi Gia V, sinh năm 2003 - Chủ Hộ kinh doanh Cầm đồ Đức Hiếu; Địa chỉ: Số A L, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
  2. Ông Phạm Quang H1, sinh năm 1982; Địa chỉ: Số A L, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Lê Minh H không có nghề nghiệp và nơi cư trú ổn định. Ngày 29/8/2024, bị cáo thuê phòng trọ ở địa chỉ C L, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 22/9/2024, H từ trên phòng trọ ở tầng 1 đi xuống tầng trệt của nhà trọ, nhìn thấy xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 92E1-310.73 của ông Lê Trọng L đậu trong nhà trọ, cắm sẵn chìa khóa nên bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp tài sản lấy tiền tiêu xài và chơi game, do H chưa tìm được việc làm. Đến khoảng 04 giờ 20 phút ngày 22/9/2024, Hoàng dọn quần áo cho vào vali, xuống tầng trệt, mở cửa dẫn xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 92E1-310.73 rời khỏi nhà trọ. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, H đến tiệm C, địa chỉ A L, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, gặp ông Phạm Quang H1 cầm xe vừa trộm cắp được với số tiền 1.500.000 đồng. H không nói với H1 xe do H phạm tội mà có, H1 cũng không biết. Số tiền cầm xe có được, H tiêu xài cá nhân hết.

Ông Lê Trọng L sau khi phát hiện bị mất trộm xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 92E1-310.73, ngày 22/9/2024, đã đến Công an phường T trình báo.

Ngày 24/9/2024, qua truy xét, Công an Q mời Lê Minh H về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q, H khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Kết luận định giá tài sản số 281/KL-HĐ ĐGTS ngày 26/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận G: 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius biển số 92E1 - 310.73, số khung: RLCUE1710GY076981, số máy: E3T6E117325, màu xám đen, sản xuất năm 2015, có giá trị 7.333.000 đồng.

Về vật chứng vụ án:

  • - 01 (Một) xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius biển số 92E1 - 310.73, số khung: RLCUE1710GY076981, số máy: E3T6E117325, màu xám đen, sản xuất năm 2015. Là tài sản bị cáo H chiếm đoạt của ông Lê Trọng L.
  • - 01 (Một) áo thun tay ngắn màu xám, phía trước có dòng chữ “DSQUARED2" màu đỏ và 01 (Một) quần dài màu xanh. Là trang phục Lê Minh H mặc khi trộm cắp tài sản.
  • - 01 (Một) căn cước công dân số [...], tên Lê Minh H.
  • - Hợp đồng cầm đồ số 000250 và 001642.

Về dân sự: Bị hại là ông Lê Trọng L đã nhận lại xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius biển số 92E1 - 310.73, màu xám đen, không có yêu cầu gì về dân sự.

Tại Bản cáo trạng số 19/CT - VKSQ7 ngày 10/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Minh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Minh H tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo, người bị hại tại cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Minh H về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

  • - Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Minh H từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù;
  • - Về trách nhiệm dân sự:
    • + Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu gì thêm và tại phiên tòa vắng mặt nên đề nghị không xét.
    • + Ông Phạm Quang H1 yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 1.500.000 đồng đã đưa cho bị cáo, bị cáo đồng ý bồi thường. Đề nghị xem xét buộc bị cáo bồi thường cho ông Phạm Quang H1 số tiền 1.500.000 đồng.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) áo thun tay ngắn màu xám, phía trước có dòng chữ “DSQUARED2" màu đỏ và 01 (Một) quần dài màu xanh (thu giữ của Lê Minh H); Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án hợp đồng cầm đồ số 000250 và 001642; trả lại 01 (Một) căn cước công dân số [...] cho bị cáo;

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Q, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Bị cáo Lê Minh H đã có hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản là gắn máy hiệu Yamaha Sirius biển số 92E1 - 310.73 của ông Lê Trọng L một cách trái pháp luật. Theo Kết luận của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận G thì xe có giá trị là 7.333.000 đồng. Hành vi này của bị cáo Lê Minh H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Bị cáo H có nhân thân chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính nhưng do tham lam tư lợi, lười nhác lao động đã cố ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân mà còn gây mất trật tự trị an xã hội nên cần phải xử lý bị cáo bằng mức án nghiêm mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Minh H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản chiếm đoạt đã thu hồi được trả lại cho bị hại nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[5] Về vật chứng:

  • - 01 (Một) xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius biển số 92E1 - 310.73, số khung: RLCUE1710GY076981, số máy: E3T6E117325, màu xám đen, sản xuất năm 2015. Là tài sản bị cáo H chiếm đoạt của ông Lê Trọng L. Theo Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh thì xe do ông Lê Trọng L đứng tên đăng ký. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại cho ông L nên Hội đồng xét xử không xét.
  • - 01 (Một) áo thun tay ngắn màu xám, phía trước có dòng chữ “DSQUARED2" màu đỏ và 01 (Một) quần dài màu xanh thu giữ của Lê Minh H, là đồ bị cáo mặc khi đi trộm cắp tài sản và bị cáo không có yêu cầu nhận lại, không còn giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu hủy.
  • - Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án hợp đồng cầm đồ số 000250 và 001642
  • - 01 (Một) Căn cước công dân số [...] của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không có yêu cầu gì thêm và tại phiên tòa có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xét.

[7] Bị cáo khai sau khi chiếm đoạt được xe bị cáo bán cho ông Phạm Quang H1 được số tiền 1.500.000 đồng. Ông H1 đã tự nguyện giao nộp lại xe. Ông Phạm Quang H1 yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 1.500.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường. Xét đây là sự tự nguyện của bị cáo nên ghi nhận. Buộc bị cáo H bồi thường cho ông Phạm Quang H1 số tiền 1.500.000 đồng.

[8] Đối với ông Phạm Quang H1 được ông Bùi Gia V - Chủ cửa tiệm cầm đồ Đức H2 bị Cơ quan cảnh sát điều tra công an Q đã đề nghị Công an phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm “Nhận cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác nhưng không có giấy ủy quyền hợp lệ của người đó cho người mang tài sản đi cầm cố” là vi phạm Điểm 1 Khoản 2 Điều 12 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 là phù hợp.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt:

Xử phạt bị cáo Lê Minh H 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Thời hạn tù tính từ ngày 27/9/2024.

2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:

2.1 Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) áo thun tay ngắn màu xám, phía trước có dòng chữ “DSQUARED2" màu đỏ và 01 (Một) quần dài màu xanh. (Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 029 ngày 03/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh).

2.2 Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án hợp đồng cầm đồ số 000250 và 001642;

2.3 Trả lại cho bị cáo Lê Minh H 01 (Một) Căn cước công dân số [...];

2.4 Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015; các Điều 357; Điều 468; Điều 584; Điều 585; Khoản 1 Điều 586 và Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015

Buộc bị cáo Lê Minh H bồi thường cho ông Phạm Quang H1 số tiền 1.500.000 (Một triệu năm trăm ngàn) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đối với các trường hợp Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền chủ động ra quyết định thi hành án hoặc kể từ ngày ông Phạm Quang H1 có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền bị cáo phải trả; nếu bị cáo chưa thi hành, thì hàng tháng bị cáo còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành tại thời điểm thi hành.

3. Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí Tòa án năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng.

4. Căn cứ Khoản 1 Điều 333, Khoản 1 Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

  • - Bị cáo Lê Minh H được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
  • - Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết tại địa phương./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP. HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 7;
  • - Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Cơ sở Quận 7;
  • - Chi cục THADS Quận 7;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ, Công an Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Bị cáo;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu sổ án;
  • - Lưu vp, hồ sơ. (Tk. V.Phương).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Hà Thị Luyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HSST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 24/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger