Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/DS-ST

Ngày 28-02-2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: bà Nguyễn Thị Thụy

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Châu Hồng Nga

2. Bà Vương Thị Hồng Thanh

- Thư ký phiên tòa: ông Trần Hồng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: bà Bùi Thị Xuân Tình – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 862/2024/DS-ST ngày 16/12/2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 34/2025/QĐST-DS ngày 26 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Q; trụ sở: B L, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp: bà Nguyễn Thùy L, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ; địa chỉ: số E đại lộ B, khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; là người đại diện theo ủy quyền, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: bà Lê Thị B, sinh năm 1979 và ông Lê Quốc K, sinh năm 1969; cùng thường trú: số B khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là bà Nguyễn Thùy L trình bày:

Ngày 26/12/2018 Ngân hàng Thương mại cổ phần Q – Chi nhánh B1 (gọi tắt là Ngân hàng) với bà Lê Thị B và ông Lê Quốc K cùng ký kết hợp đồng cho vay kiêm khế ước nhận nợ số 183/18/HĐCV-9369 theo đó số tiền vay 490.000.000 đồng, thời hạn 84 tháng, mục đích thanh toán tiền mua xe ô tô, lãi suất cho vay từ ngày giải ngân cho đến ngày 26/12/2019 là 12%/năm, lãi suất kỳ tiếp theo được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần theo công thức lãi suất vay bằng lãi suất cơ sở cộng 3,50%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn, lãi chậm trả lãi 10%/năm trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Để đảm bảo khoản vay trên, bà Lê Thị B và ông Lê Quốc K với Ngân hàng ký kết hợp đồng thế chấp ô tô số 114/18/HĐTC-9369 ngày 26/12/2018, tài sản thế chấp là xe ô tô hiệu Toyota Vios G, màu đen, biển kiểm soát 61A-558.22, số khung: 3F32J5056873, số máy 2NRX402266 cấp cho bà Lê Thị B đứng tên chủ sở hữu theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 086342 do Phòng C công an tỉnh B cấp ngày 21/12/2018. Tài sản thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm vào ngày 17/9/2015 tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại thành phố Đà Nẵng theo đúng quy định của pháp luật.

Ngân hàng đã giải ngân cho bà B và ông K số tiền vay trên. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà B và ông K đã thanh toán được số tiền gốc và lãi 348.543.128 đồng. Sau đó, bà B và ông K không tiếp tục nghĩa vụ trả nợ từ ngày 26/01/2022 cho đến nay. Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu bà B và ông K thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ nhưng ông bà vẫn không thực hiện. Tính đến ngày 28/02/2025, bà B và ông K còn nợ Ngân hàng số tiền 443.065.897 đồng; trong đó: tiền nợ gốc 284.199.971 đồng, tiền lãi trong hạn 67.088.211 đồng, tiền lãi quá hạn 78.983.599 đồng và tiền lãi chậm trả lãi 12.794.115 đồng.

Nay, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà B và ông K thanh toán cho Ngân hàng tính đến ngày 28/02/2025 tổng số tiền 443.065.897 đồng; trong đó: tiền nợ gốc 284.199.971 đồng, tiền lãi trong hạn 67.088.211 đồng, tiền lãi quá hạn 78.983.599 đồng và tiền lãi chậm trả lãi 12.794.115 đồng. Tiền lãi phát sinh sẽ được tiếp tục tính theo thỏa thuận tại hợp đồng cho vay kiêm khế ước nhận nợ số 183/18/HĐCV-9369 kể từ ngày 01/3/2025 cho đến khi bà B và ông K thanh toán xong khoản nợ. Trường hợp bà B và ông K không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ và lãi phát sinh thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án kê biên, phát mãi tài sản đảm bảo để thu hồi nợ.

- Đối với bị đơn bà Lê Thị B và ông Lê Quốc K:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án, thông báo buổi làm việc để tham gia xem xét, thẩm định tại chỗ, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải bằng thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, đồng thời yêu cầu bị đơn có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng bị đơn không có ý kiến cũng như không cung cấp tài liệu, chứng cứ và vắng mặt không có lý do. Như vậy, việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được xem xét trên cơ sở chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.

- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập bằng thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng không chấp hành theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Tòa án nhận định:

  1. Về tố tụng:
    1. Ngân hàng Thương mại cổ phần Q khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị B và ông Lê Quốc K thanh toán nợ gốc, nợ lãi đối với khoản vay theo hợp đồng cho vay kiêm khế ước nhận nợ số 183/18/HĐCV-9369 ngày 26/12/2018. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bà Lê Thị B và ông Lê Quốc K; cùng thường trú: số B khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
    2. Theo kết quả xác minh của Tòa án tại Công an phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương xác định bị đơn bà Lê Thị B và ông Lê Quốc K có đăng ký thường trú tại: số B khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương nhưng hiện không còn sinh sống tại địa chỉ trên, nguyên đơn cũng không biết địa chỉ hiện nay bị đơn đang sinh sống. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để triệu tập bị đơn lên Tòa án để làm việc nhưng bị đơn vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc. Tòa án triệu tập bị đơn tham gia phiên tòa vào ngày 26/02/2025 và ngày 28/02/2025 nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

      Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và không cung cấp bất cứ chứng cứ gì. Vì vậy, bị đơn phải gánh chịu hậu quả do việc không cung cấp chứng cứ theo quy định tại Điều 96 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được xem xét trên cơ sở chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.

    3. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là bà Nguyễn Thùy L có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt người đại diện hợp pháp của nguyên đơn theo quy định của pháp luật.
  2. Xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
    1. Xét hợp đồng cho vay kiêm khế ước nhận nợ số 183/18/HĐCV-9369 ngày 26/12/2018 được giao kết giữa Ngân hàng với bà B và ông K đã thể hiện ý chí tự nguyện thỏa thuận giữa hai bên. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà B và ông K đã thanh toán được số tiền gốc và lãi 348.543.128 đồng, kể từ ngày 26/01/2022 cho đến nay bà B và ông K không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ . Như vậy, bà B và ông K đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc và lãi theo thỏa thuận. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà B và ông K trả tổng số tiền tính đến ngày 28/02/2025 là 443.065.897 đồng; trong đó: tiền nợ gốc 284.199.971 đồng, tiền lãi trong hạn 67.088.211 đồng, tiền lãi quá hạn 78.983.599 đồng và tiền lãi chậm trả lãi 12.794.115 đồng là có sơ sở chấp nhận.
    2. Xét hợp đồng thế chấp ô tô số 114/18/HĐTC-9369 ngày 26/12/2018 giữa Ngân hàng với bà B và ông K đã được ký kết giữa người có thẩm quyền, đúng thủ tục và được đăng ký giao dịch bảo đảm nên phát sinh hiệu lực. Theo đó, bà B và ông K đã dùng tài sản là xe ô tô hiệu Toyota Vios G, màu đen, biển kiểm soát 61A-558.22, số khung: 3F32J5056873, số máy 2NRX402266 cấp cho bà Lê Thị B đứng tên chủ sở hữu theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 086342 do Phòng C công an tỉnh B cấp ngày 21/12/2018 để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ. Trường hợp bà B và ông K không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
    3. Tiền lãi được tiếp tục tính kể từ ngày 01/3/2025 cho đến khi bà B và ông K trả xong các khoản nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng cho vay kiêm khế ước nhận nợ số 183/18/HĐCV-9369 ngày 26/12/2018.
  3. Chi phí Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng số tiền 2.678.908 đồng do nguyên đơn chịu. Nguyên đơn đã nộp xong.
  4. Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An là phù hợp.
  5. Án phí dân sự sơ thẩm: bị đơn bà Lê Thị B và ông Lê Quốc K phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ vào các Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); căn cứ vào Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q đối với bà Lê Thị B và ông Lê Quốc K về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
    1. Buộc bà Lê Thị B và ông Lê Quốc K có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q số tiền còn nợ phát sinh từ hợp đồng cho vay kiêm khế ước nhận nợ số 183/18/HĐCV-9369 ngày 26/12/2018 tính đến ngày 28/02/2025 là 443.065.897 đồng (bốn trăm bốn mươi ba triệu không trăm sáu mươi lăm nghìn tám trăm chín mươi bảy đồng), trong đó: số tiền nợ gốc 284.199.971 đồng (hai trăm tám mươi bốn triệu một trăm chín mươi chín nghìn chín trăm bảy mươi mốt đồng), tiền lãi trong hạn 67.088.211 đồng (sáu mươi bảy triệu không trăm tám mươi tám nghìn hai trăm mười một đồng), tiền lãi quá hạn 78.983.599 đồng (bảy mươi tám triệu chín trăm tám mươi ba nghìn năm trăm chín mươi chín đồng) và tiền lãi chậm trả lãi 12.794.115 đồng (mười hai triệu bảy trăm chín mươi bốn nghìn một trăm mười lăm đồng).
    2. Trường hợp bà Lê Thị B và ông Lê Quốc K không thanh toán nợ, Ngân hàng Thương mại cổ phần Q được quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản đảm bảo là xe ô tô hiệu Toyota Vios G, màu đen, số khung: 3F32J5056873, số máy 2NRX402266, biển kiểm soát 61A-558.22 cấp cho bà Lê Thị B đứng tên chủ sở hữu theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 086342 do Phòng C công an tỉnh B cấp ngày 21/12/2018 theo hợp đồng thế chấp ô tô số 114/18/HĐTC-9369 ngày 26/12/2018.
    3. Tiền lãi được tiếp tục tính kể từ ngày 01/3/2025 cho đến khi bà Lê Thị B và ông Lê Quốc K trả xong các khoản nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng cho vay kiêm khế ước nhận nợ số 183/18/HĐCV-9369 ngày 26/12/2018.
  2. Về chi phí đăng thông báo: Ngân hàng Thương mại cổ phần Q chịu số tiền 2.678.908 đồng (hai triệu sáu trăm bảy mươi tám nghìn chín trăm lẻ tám đồng), được khấu trừ vào số tiền đã nộp.
  3. Án phí dân sự sơ thẩm:
    • Bà Lê Thị B và ông Lê Quốc K phải chịu số tiền 21.722.636 đồng (hai mươi mốt triệu bảy trăm hai mươi hai nghìn sáu trăm ba mươi sáu đồng).
    • Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q số tiền 10.519.752 đồng (mười triệu năm trăm mười chín nghìn bảy trăm năm mươi hai đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007534 ngày 10 tháng 12 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  4. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:
- Các đương sự;
- TAND tỉnh Bình Dương;
- VKSND thành phố Dĩ An;
- Chi cục THADS thành phố Dĩ An;
- Lưu: VT, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thụy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/DS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 24/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger