|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 24/2025/HS-ST Ngày 28 tháng 02 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Phạm Tuấn Anh |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Vi Văn Định |
| Ông Nguyễn Bá Điền |
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Tôn Thị Thanh Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 113/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: P; Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam.
Sinh ngày 04 tháng 4 năm 2003 tại Phú Thọ.
Nơi thường trú: Khu C, xã S, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Trình độ học vấn: Lớp 9/12.
Đoàn thể, đảng phái: Không
Con ông: Phan Quang M, sinh năm 1978.
Con bà: Hà Thị L, sinh năm 1978.
Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo bị bắt từ ngày 24/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh P, có mặt.
Người làm chứng:
1, Anh Trần Đức L1, sinh năm 2002; Nơi thường trú: Khu C, xã S, huyện T, tỉnh Phú Thọ, vắng mặt.
2, Anh Phùng Văn T, sinh ngày 21/9/2006, có mặt;
Người đại diện hợp pháp: Ông Phùng Văn H, sinh năm 1971 (là bố đẻ của T), vắng mặt.
Đều có địa chỉ tại: Khu E, xã G, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
3, Anh Nguyễn Anh Đ, sinh năm 1998; Địa chỉ: Khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ, vắng mặt.
4, Anh Vũ Văn N, sinh năm 2003; Nơi thường trú: Khu L, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, vắng mặt.
5, Anh Nguyễn Anh T1, sinh năm 2005; Nơi thường trú: Khu D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, vắng mặt.
6, Anh Tạ Thành C, sinh năm 2004; Nơi thường trú: Phố K, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, vắng mặt.
7, Anh Đào Duy H1, sinh ngày 12/2/2006; Nơi thường trú: Khu H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 5 năm 2023, do không có việc làm và điều kiện kinh tế khó khăn, nên Phan Quang T2 có ý định tìm việc làm thêm. Vì vậy, khi đến chơi nhà Nguyễn Văn T3, SN 1996, trú tại xã L, huyện Y, tỉnh Phú Thọ (là anh họ của T2), thấy T3 nói chuyện có ý định sang Campuchia lao động, T2 xin đi cùng, T3 đồng ý. Sau đó cả hai làm thủ tục xuất cảnh sang Campuchia lao động bằng hộ chiếu phổ thông qua cửa khẩu M1, tỉnh Tây Ninh. Tại Campuchia, T2 làm việc tại công ty có chủ là người Trung Quốc, công việc là sử dụng các tài khoản mạng xã hội T4 tự nhắn tin, trao đổi với nhau và nhắn tin với các tài khoản mạng xã hội Telegram khác để tăng tương tác trong các nhóm chát. Sau đó, do áp lực công việc nên khoảng cuối tháng 7/2023, T2 nghỉ việc về Việt Nam. Quá trình làm việc tại Campuchia, T2 quen biết một người Việt Nam tên Tuấn A (T2 không biết họ tên đầy đủ và nơi ở của Tuấn A). Sau khi về nước được một thời gian thì Tuấn A đã nhắn tin qua Facebook Messenger trao đổi với T2 về việc đang tìm người Việt Nam đưa sang Campuchia để làm công việc “dựt đơn” (là sử dụng máy tính kết nối mạng internet để lừa đảo, chiếm đoạt tiền của khách hàng), với mức lương là 800 USD/01 tháng và 200 USD chuyên cần, công việc nhẹ và làm việc trong phòng máy tính. Nếu đi thì toàn bộ chi phí sẽ được công ty bên Campuchia do chủ là người Trung Quốc ứng tiền, bao gồm: Chi phí mua vé máy bay dến sân bay T, tiền di chuyển từ sân bay T lên cửa khẩu M1, Tây Ninh, tiền thuê người đưa vượt biên sang Campuchia, tổng khoảng 7.000.000 đồng và số tiền này sẽ được trừ vào lương; Việc vượt biên sang Campuchia không cần làm thủ tục, giấy tờ xuất cảnh gì; số lượng người càng nhiều càng tốt. Khi trao đổi, Tuấn A cũng không hứa hẹn gì với T2 về việc tìm người đưa sang Campuchia lao động.
Sau đó, T2 có ý định sang Campuchia lao động, nên đã trao đổi việc này với 05 người Việt Nam, gồm: Trần Đức L1, SN 2002, ở khu C, xã S, huyện T; Phùng Văn T, SN 2006, ở khu E, xã G, huyện T; Nguyễn Anh Đ, SN 1998, ở khu Đ, xã Đ, huyện T; Vũ Văn N, SN 2003, ở khu L, thị trấn T, huyện T và Nguyễn Anh T1, SN 2005, ở khu D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Quá trình trao đổi, T2 nói với 05 người này là sang Campuchia lao động với thu nhập là 800 USD/01 tháng và 200 USD tiền chuyên cần, nếu đi thì chủ công ty là người Trung Quốc bên Campuchia sẽ ứng tiền mua vé máy bay, tiền di chuyển từ sân bay T lên cửa khẩu M1, tiền thuê người đưa vượt biên sang Campuchia; toàn bộ quá trình đi không phải làm thủ tục, giấy tờ xuất cảnh; chi phí đi hết 7.000.000 đồng, sau khi sang Campuchia lao động sẽ trừ vào lương. Khi T2 nói như vậy, thì cả 05 người đều nhờ T2 đưa sang Campuchia để lao động. Sau khi đã thống nhất, T2 liên hệ và báo ngày đi với Tuấn A để cho người đón, đồng thời yêu cầu 05 người này cung cấp thông tin căn cước công dân để gửi cho Tuấn A đặt vé máy bay. Trước khi đi, Tuấn A cho T2 số điện thoại của một người đàn ông (T2 không biết người này là ai, ở đâu, số điện thoại cũng không còn lưu giữ) để liên lạc đón T2 và 05 người đi cùng tại sân bay T. Sau khi có vé máy bay do Tuấn A gửi, T2 thông báo cho L1, T, T1, Đ, N biết và hẹn ngày 29/8/2023, T2 cùng L1, T, T1 đặt xe ghép đi từ thị trấn T xuống sân bay N, chi phí thuê xe tự chi trả và chia đều cho nhau; còn Đ và N tự thuê xe đi xuống sân bay, hẹn nhau tập trung tại sân bay N. Khi xuống máy bay tại sân bay T, T2 liên lạc với người đón theo số điện thoại Tuấn A cho trước đó, là một người đàn ông khoảng hơn 30 tuổi (T2 không biết người này là ai, làm gì, ở đâu và không nhớ biển số xe), người này lái xe ô tô đưa T2 và 05 người đi cùng đến gần cửa khẩu M1, tỉnh Tây Ninh. Tại đây, có 05 người đàn ông đi xe máy đợi sẵn và đón N, Đ, L1, T, T1 đưa vượt biên sang Campuchia bằng đường tiểu ngạch (đường rừng) mà không làm giấy tờ, thủ tục theo quy định; Còn T2 làm thủ tục xuất cảnh bằng hộ chiếu qua cửa khẩu M1, tỉnh Tây Ninh sang Campuchia. Khi sang đến địa phận Campuchia, T2 gặp N, Đ, L1, T, T1 tại địa điểm gần cửa khẩu M1. Sau đó xe của công ty đến đón và đưa vào cả nhóm làm việc cùng công ty với Tuấn A. Khi đến công ty làm việc, T2 và 05 người đi cùng phải viết tên, tuổi vào giấy ứng tiền, lý do ứng tiền là chi phí sinh hoạt và chi phí đưa xuất cảnh sang Campuchia do công ty đã chuẩn bị sẵn, số tiền T2 phải ký ứng tiền khoảng 158 USD (do không phải chi phí cho người đưa dẫn qua biên giới), còn 05 người đi cùng ký ứng khoảng 280 USD.
Sau khi đưa 05 người sang Campuchia lao động, T2 nghe chủ công ty N2 nói, công ty sẽ chi trả cho người nào giới thiệu được người đến công ty làm việc số tiền là 200 USD/01 người, với điều kiện là người được giới thiệu đến làm việc trong thời gian từ 01 tháng trở lên. Khoảng 6-7 ngày sau khi công việc ở Campuchia đã ổn định, T2 tiếp tục liên lạc qua ứng dụng Messenger để trao đổi và rủ thêm Tạ Thành C, SN 2004, ở phố K, thị trấn T, huyện T và Nguyễn Anh Đ có nhờ T2 đưa thêm Đào Duy H1, SN 2006, ở khu H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (là bạn Đ, cũng biết T2), sang Campuchia lao động. T2 đã trao đổi với C và H1 về công việc tại Campuchia như đã trao đổi với nhóm trước.
Sau khi C và Hiệp đồng Ý sang Campuchia lao động, T2 yêu cầu cung cấp thông tin căn cước công dân để gửi cho Tuấn A đặt vé máy bay. T2 hướng dẫn C, H1 bắt xe xuống sân bay N để làm thủ tục bay vào sân bay T, sau đó liên lạc với người đón tại sân bay để đưa lên cửa khẩu M1, tỉnh Tây Ninh. Theo hướng dẫn của T2, cả C và H1 đều được đưa vượt biên sang Campuchia mà không phải làm giấy tờ, thủ tục theo quy định của pháp luật. C và H1 được đưa đến làm cùng công ty với T2 và phải ký vào giấy ứng tiền như những người đi trước đó.
Đến tháng 9 năm 2023 do công ty giải thể nên C, Đ và Nguyễn Anh T1 về Việt Nam trước, còn T, N, L1, H1 về Việt Nam lúc nào T2 không biết. Tháng 4 năm 2024 Tùng trở về Việt Nam. Sau đó T2 bị cơ quan Điều tra triệu tập đến làm việc, T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên và giao nộp 02 điện thoại di động của T2, gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max màu trắng, số Seri: LW3P392VR7; kèm theo 01 (một) sim điện thoại di động số thuê bao 0868299203; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đỏ số Seri: 9HV04HSKLZLNO7BM; kèm theo 01 (một) sim điện thoại di động số thuê bao 0865.227.854.
Quá trình điều tra, Cơ quan an ninh điều tra (ANĐT) đã tiến hành xác minh đối với những đối tượng liên quan là Trần Đức L1; Phùng Văn T; Nguyễn Anh Đ; Vũ Văn N; Nguyễn Anh T1; Tạ Thành C và Đào Duy H1, các đối tượng này đều khai nhận việc đã được T2 tổ chức cho xuất cảnh trái phép sang Campuchia như T2 khai nhận.
Cáo trạng số 04/CT-VKSPT-P1, ngày 30/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ truy tố:
Phan Quang T2 về tội “Tổ chức đưa người trốn ra nước ngoài” quy định tại điểm b, c khoản 2, Điều 349 Bộ luật hình sự (BLHS);
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và thể hiện thái độ ăn năn hối cải.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ vẫn giữ quan điểm truy tố và đề nghị:
Tuyên bố: Phan Quang T2 về tội “Tổ chức đưa người trốn ra nước ngoài”
Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 349, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS.
Xử phạt bị cáo Phan Quang T2 từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 24/5/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS.
Đề nghị xử lý vật chứng:
Trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max màu trắng, số S: LW3P392VR7.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) sim điện thoại di động số thuê bao 0868.299.203.
Trả lại cho T2: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đỏ số Seri: 9HV04HSKLZLNO7BM; kèm theo 01 (một) sim điện thoại số thuê bao 0865.227.xxx. Qua kiểm tra không có liên quan gì đến việc liên lạc đưa người xuất cảnh trái phép ra nước ngoài. Điện thoại được tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa Bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Bị cáo không tranh luận về tội danh cũng như bào chữa về phần hình phạt, xử lý vật chứng. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để được cải tạo sớm trở về gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tại phiên tòa các anh L1, Đ, N, T1, C, H1 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ. Nay Hội đồng xét xử xác định lại tư cách tham gia tố tụng họ đều là người làm chứng, vì những người đó không có quyền lợi và nghĩa vụ gì liên quan trong vụ án này. Do vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định pháp luật.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong khoảng thời gian từ tháng 5 năm 2023 đến tháng 9 năm 2023. Do quan hệ bạn bè, muốn giúp người khác có công việc và với mục đích vụ lợi cá nhân, nên Phan Quang T2 đã 2 lần, tổ chức đưa 7 người là Trần Đức L1, Phùng Văn T, Nguyễn Anh Đ, Nguyễn Văn N1, Đào Duy H1, Tạ Thành C đều ở huyện T và Nguyễn Anh T1 ở huyện T sang Campuchia để lao động, mà không làm thủ tục, giấy tờ xuất cảnh theo quy định pháp luật.
[2] S khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các biên bản làm việc, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, lời khai của bị cáo trong vụ án tại Cơ quan ANĐT và lời khai của bị cáo tại phiên tòa.
Hành vi nêu trên của Phan Quang T2 đã phạm vào tội “Tội tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 349 Bộ luật hình sự:
- Người nào tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 120 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
- b) Phạm tội 02 lần trở lên;
- c) Đối với từ 5 đến 10 người
[3] Tính chất của vụ án là rất nguy hiểm, bị cáo đã vi phạm về quản lý xuất nhập cảnh người theo quy định của Nhà nước. Vì khi đi nước ngoài trái phép gây ra nhiều hệ lụy về việc nhà nước quản lý công dân, người dân ở nước ngoài bị bóc lột sức lao động, bị xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng mà các phương tiện truyền thông hiện nay đang đưa tin. Do vậy phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật để giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong toàn xã hội hiện nay.
[4] Xét nhân thân bị cáo thấy rằng:
[4.1] Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4.2] Bị cáo không có tiền án, tiền sự có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bố đẻ bị cáo là Phan Quang M đạt nhiều thành tích, danh hiệu trong quân đội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
[4.3] Sau khi cân nhắc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, căn cứ vào tính chất vụ án. Do vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội một thời gian ở mức đầu khung cũng đủ giáo dục, cải tạo bị cáo sớm trở thành người có ích cho gia đình và xã hội sau này.
[5] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 4 Điều 349 BLHS có quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm".
Theo biên bản xác minh tài sản đối với bị cáo của Cơ quan ANĐT và tại phiên tòa đã xác định: Bị cáo sống cùng gia đình, không có tài sản chung, không có tài sản riêng. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Đối với Nguyễn Anh T1 (anh họ T2) quá trình điều tra xác định T1 không có mặt tại địa phương. Bên cạnh đó T2 khai việc T2 tổ chức cho 7 người đi nước ngoài T1 không biết, không liên quan gì đến T1.
[6] Đối với 07 người Việt Nam được T2 đưa sang Campuchia lao động là Trần Đức L1; Phùng Văn T; Nguyễn Anh Đ; Vũ Văn N; Nguyễn Anh T1; Tạ Thành C và Đào Duy H1, đến thời điểm Phan Quang T2 tổ chức cho xuất cảnh trái phép sang Campuchia lao động. Qua xác minh thì những người đó chưa có ai bị xử lý hành chính về hành vi hành vi xuất cảnh trái phép, nên chưa có căn cứ để xử lý bằng pháp luật hình sự. Ngày 06/12/2024, Cơ quan ANĐT - Công an tỉnh P đã ban hành văn bản số 347/ANĐT về việc đề nghị xử lý vi phạm hành chính đối với các trường hợp nêu trên gửi Công an địa phương để củng cố hồ sơ và xử lý theo quy định.
[7] Đối với người đàn ông tên Tuấn A, là đối tượng bị cáo Phan Quang T2 quen biết Tuấn A khi làm việc cùng tại Campuchia, ngoài việc biết người nay có tên thường gọi là Tuấn A và khoảng hơn 20 tuổi. Bị cáo không biết bất kỳ thông tin cá nhân nào khác của Tuấn A. Do vậy, Cơ quan ANĐT không có cơ sở để tiến hành xác minh, xác định đối tượng Tuấn A.
[8] Đối với các đối tượng đón 7 người tại sân bay T đưa đến M1 và các đối tượng đưa 7 người vượt biên sang Campuchia: xét thấy đều do Tuấn A liên hệ; T2 chỉ được Tuấn A cho số điện thoại để liên lạc khi đến sân bay, ngoài ra không biết bất kỳ thông tin về những người này. Do vậy, Cơ quan ANĐT không có cơ sở để tiến hành xác minh các đối tượng này.
[9] Về xử lý vật chứng vụ án:
[9.1] Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max màu trắng, số S: LW3P392VR7 thu giữ của T2, Cơ quan ANĐT đã chụp màn hình những tin nhắn liên lạc để đưa người xuất cảnh trái phép ra nước ngoài. Thấy rằng bị cáo phạm tội từ tháng 5/2023 đến tháng 9/2023, khi đó điện thoại Iphone 15 Pro Max chưa bán ra thị trường, vì thế không liên quan đến tội phạm, do vậy cần trả lại cho bị cáo.
[9.2] Đối với chiếc điện thoại di động lắp 01 (một) sim số thuê bao 0868.299.203 mà trước đó T2 để liên lạc khi phạm tội, bị cáo khai đã làm mất nên không có căn cứ xử lý. Đối với sim số thuê bao 0868.299.203 nay không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[9.3] Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đỏ số Seri: 9HV04HSKLZLNO7BM; kèm theo 01 (một) sim điện thoại số thuê bao 0865.227.xxx. Qua kiểm tra không có liên quan gì đến việc liên lạc đưa người xuất cảnh trái phép ra nước ngoài, do vậy không liên quan đến tội phạm, cần trả lại cho bị cáo.
[10] Quá trình tiến hành các hoạt động tố tụng của Cơ quan ANĐT Công an tỉnh P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình kiểm sát điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[11] Đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng điều luật, hình phạt, cũng như xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử tại phiên tòa nên được chấp nhận.
[12] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 349, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS.
Tuyên bố: Bị cáo Phan Quang T2 phạm tội “Tội tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép”.
Xử phạt Phan Quang T2 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 24/5/2024.
Căn cứ khoản 4 Điều 349 BLHS;
Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của BLTTHS.
Trả lại Phan Quang T2: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max màu trắng, số seri: LW3P392VR7 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đỏ số Seri: 9HV04HSKLZLNO7BM, kèm theo 01 (một) sim điện thoại số thuê bao 0865.227.xxx thu giữ của T2.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) sim điện thoại di động số thuê bao 0868.299.203 thu giữ của T2.
Vật chứng đang được tạm giữ theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 31/12/2024 giữa Cơ quan ANĐT - Công an tỉnh P và Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Phan Quang T2 phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Tuấn Anh |
Bản án số 24/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tội tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép
- Số bản án: 24/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Quang Tùng
