Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁI THỤY

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 24/2025/HS-ST

Ngày: 28/02/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy Dung;
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Thắng và ông Đỗ Hồng Tuyên
  • Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nhật Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Tô Tuấn Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 02 năm 2025, Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 01/2025/TB-TA ngày 17 tháng 02 năm 2025 đối với:

Bị cáo Nguyễn Đức N, sinh ngày 19/5/1966; Nơi cư trú: Tổ dân phố số A, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn S, sinh năm 1932 và bà Phạm Thị M (đã chết); Có vợ là Nguyễn Thị L, sinh năm 1972 và 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2007; Tiền án: Không; Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 05/9/2024 của Công an huyện T tước giấy phép lái xe hạng B2 đối với Nguyễn Đức N, thời hạn 02 tháng từ ngày 05/9/2024 đến hết ngày 05/11/2024; Nhân thân: Từ năm 1985 đến năm 1989 tham gia nghĩa vụ quân sự. Ngày 15/6/2018 bị Công an thị trấn D xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc (đã chấp hành xong); Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; Triệu tập có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Bà Đào Thị K – sinh năm 1943 (Đã chết); Nơi cư trú: Tổ dân phố N, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình.

* Đại diện hợp pháp của bị hại: (Đều vắng mặt)

  • Ông Đào Hồng Đ – sinh năm 1946; Nơi cư trú: Phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội;
  • Ông Đào Thanh D – sinh năm 1948; Nơi cư trú: Tổ dân phố N, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình;
  • Bà Đào Thị L1 - sinh năm 1952; Nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình;
  • Bà Đào Thị H – sinh năm 1955; Nơi cư trú: Xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình;
  • Bà Đào Thị T – sinh năm 1958; Nơi cư trú: Tổ dân phố N, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình.
  • Ông Đào Thanh D1 - sinh năm 1961; Nơi cư trú: Phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội;

Người đại diện theo ủy quyền của đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Đào Thanh D – sinh năm 1948; Nơi cư trú: Tổ dân phố N, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình (Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)

* Người làm chứng:

Anh Lê Văn Q – sinh năm 1983; Nơi cư trú: Tổ dân phố số A, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 19/9/2024, tại khu vực vỉa hè cây xăng H1, thuộc tổ dân phố số A, thị trấn D, huyện T, Nguyễn Đức N (đã bị xử lý vi phạm hanh chính, đang trong thời gian bị tước giấy phép lái xe hạng B2) điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 15C-158.29 đang chuyển động lùi từ trên vỉa hè xuống lòng đường, ở phía bên phải đường, hướng từ xã T về thị trấn D. Khi đang lùi xe xuống lòng đường, do không chú ý quan sát nên phần bánh xe ô tô phía sau bên phải đã va chạm vào người bà Đào Thị K đang đi bộ trên vỉa hè. Bà K bị bánh xe ô tô phía sau bên phải lùi đè vào phần cổ xương đùi bên phải và phần xương sườn bên phải, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện T, đến 14 giờ 25 phút cùng ngày, bà K tử vong tại bệnh viện do mất máu cấp, vỡ gan và đa chấn thương.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T lập hồi 15 giờ 30 phút ngày 19/9/2024 xác định vị trí, phương tiện, các dấu vết như sau: Đoạn đường xảy ra tai nạn là vỉa hè phía bên phải đường Quốc lộ 37B theo hướng từ xã T đi thị trấn D, vỉa hè được đổ bê tông phẳng nhẵn, rộng 5m, mặt vỉa hè cao bằng mặt đường Quốc lộ 37B, tiếp giáp hai bên vỉa hè là đường Quốc lộ 37B và khu dân cư.

Lấy cột điện ký hiệu 019H làm mốc chuẩn, lấy mép đường bên phải hướng từ xã T đi thị trấn D làm mép chuẩn. Hiện trường đã bị xáo trộn, người và phương tiện liên quan đến vụ tai nạn đã được đưa ra khỏi hiện trường, không đánh dấu vị trí ban đầu, hiện trường còn lại có 02 dấu vết như sau:

  • - Cách điểm mốc 25m trên vỉa hè về phía bên phải theo hướng xã T đi thị trấn D là tâm vết máu ký hiệu số 01, vết máu có kích thước (0,3 x 0,16)m, tâm vết máu cách mép chuẩn 2,4m.
  • - Cách tâm vết máu số 01 trên vỉa hè về phía bên phải theo hướng xã T đi thị trấn D 0,2m là tâm cúc áo ký hiệu 02, cúc áo hình tròn, bằng nhựa trong suốt, có kích thước (0,015 x 0,015)m, tâm cúc áo cách mép chuẩn 2,8m.

Tại biên bản khám nghiệm phương tiện, bản ảnh phương tiện xe ô tô biển kiểm soát 15C – 158.29 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T lập ngày 23/9/2024: Mặt dưới khung kim loại đuôi xe ở vị trí gắn biển kiểm soát, cách cạnh bên phải khung kim loại 17cm, cách cạnh bên xe 60cm có dấu vết chùi tương đối sạch bụi, mất một phần bụi bẩn, không rõ hướng, vết đo (12 x 7,5)cm, vị trí dấu vết đo cách đất 70cm.

Bản kết luận giám định tử thi số 1431/KLGĐTT-KTHS ngày 25/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận về nguyên nhân chết của bà Đào Thị K: “Nguyên nhân chết do mất máu cấp, vỡ gan và đa chấn thương”.

Bản cáo trạng số 20/CT-VKSTT ngày 08/01/2025 truy tố bị cáo Nguyễn Đức N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trong bản Cáo trạng và xin HĐXX xử phạt bị cáo mức án thấp nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Về hình phạt, đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đức N từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù. Ngoài ra bị cáo còn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận gì và nói lời sau cùng: Bị cáo thấy việc làm của mình là sai, bị cáo rất ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt nhẹ nhất cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là đều hợp pháp.

Những người đại diện hợp pháp của bị hại đã được triệu tập hợp lệ và có văn bản ủy quyền tham gia tố tụng cho ông Đào Thanh D, ông D vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, người làm chứng vắng mặt nhưng đã được triệu tập hợp lệ, trước đó đã có lời khai tại cơ quan điều tra, theo quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Đức N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã xác định. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng, và còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ như: Biên bản khám nghiệm hiện trường; sơ đồ hiện trường; bản ảnh hiện trường; biên bản khám nghiệm phương tiện; biên bản khám nghiệm tử thi; kết luận giám định số 1483/KL-KTHS ngày 17/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T đối với 01 USB lưu trữ 01 tập tin video ghi lại nội dung vụ tai nạn giao thông ngày 19/9/2024 tại thị trấn D,...cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 19/9/2024, tại khu vực vỉa hè cây xăng H1, thuộc địa phận tổ dân phố số A, thị trấn D, huyện T, Nguyễn Đức N đã có hành vi điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 15C-158.29 chuyển động lùi từ trên vỉa hè xuống lòng đường, phía bên phải đường, theo hướng xã T về thị trấn D nhưng không chú ý quan sát nên bánh phía sau bên phải xe ô tô đè lên người bà Đào Thị K đang đi bộ phía sau xe ô tô trên vỉa hè. Hậu quả bà K tử vong do mất máu cấp, vỡ gan và đa chấn thương. Thời điểm bị cáo điều khiển xe ô tô tải tham gia giao thông đường bộ gây tai nạn, bị cáo N đang bị xử phạt vi phạm hành chính, bị tước Giấy phép lái xe hạng B2, thời hạn 02 tháng từ ngày 05/9/2024 đến hết ngày 05/11/2024, do đó Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung là “Không có giấy phép lái xe theo quy định” là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

Điều luật quy định như sau:

Điều 8 Luật Giao thông đường bộ

quy định về các hành vi bị nghiêm cấm: “...9. Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định.”

Điều 16 Luật Giao thông đường bộ

quy định về lùi xe: “1. Khi lùi xe, người điều khiển phải quan sát phía sau, có tín hiệu cần thiết và chỉ khi nào thấy không nguy hiểm thì mới được lùi....”

Điều 260 Bộ luật Hình sự

quy định:

“Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

...”

[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của công dân. Bị cáo N là người có đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ các quy định của pháp luật khi tham gia giao thông đường bộ nhưng do không chú ý quan sát, không tuân thủ các quy định về an toàn giao thông khi lùi xe nên gây ra tai nạn, hậu quả bị hại chết, do vậy, cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo gây ra.

[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Tại giai đoạn điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã thỏa thuận bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại và gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo đã có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, gia đình hiện đang thờ cúng bác ruột và chú ruột là liệt sĩ. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được Hội đồng xét xử áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Xét thấy nhân thân bị cáo năm 2018 đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc nhưng đã hết thời hạn và được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, không có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nằm trong khung hình phạt liền kề cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra, bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 30.000.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại đã nhận đủ tiền và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên cần ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của hai bên.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe ô tô tải biển kiểm soát 15C-158.29 cùng các giấy tờ liên quan, xét thấy đây là tài sản chung của vợ chồng bị cáo Nguyễn Đức N và Nguyễn Thị L, là nguồn sống chính của gia đình bị cáo và không còn ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại tài sản trên cho bà L là phù hợp. Trả lại bị cáo Nguyễn Đức N 01 Giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Đức N có trong hồ sơ vụ án.

[7] Về án phí: Bị cáo N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
    Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức N 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 591 Bộ luật Dân sự, ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo Nguyễn Đức N và gia đình bà Đào Thị K về việc bị cáo N bồi thường cho gia đình bà Đào Thị K số tiền 30.000.000 đồng và những người đại diện hợp pháp của bà K không yêu cầu bồi thường gì thêm.
  4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại bị cáo N 01 Giấy phép lái xe số [...] mang tên Nguyễn Đức N có trong hồ sơ vụ án.
  5. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Đức N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 28/02/2025. Những người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND h. Thái Thụy;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS h. Thái Thụy;
  • - Công an h. Thái Thụy;
  • - TAND tỉnh Thái Bình;
  • - Bị cáo;
  • - Đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
  • - Lưu HCTP:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Vũ Thị Thùy Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 24/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger