Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HOA LƯ

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24 /2025/HSST

Ngày: 25 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ - TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Tuyết

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hoàng Thị Kim Phượng

Bà Quách Thị Thu Hương

- Thư ký phiên toà: Ông Đinh Huy Hiệp – Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư - tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Đỗ Anh Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2025/TLST - HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QĐXXST-HS ngày 12/02/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Duy Đ, sinh năm: 1980 tại tỉnh Nam Định. Tên gọi khác: Không;

Nơi cư trú: thôn N, xã H, huyện Ý, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo;

Trình độ văn hóa: 8/12; Con ông Lê Duy Đ1 và con bà Hoàng Thị T; Vợ: Hoàng Thị N; Con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Nhân thân: Tại bản án số 29/2016/HSST ngày 28/03/2016, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 30 tháng án tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” thời gian thử thách là 60 tháng; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/10/2024 đến ngày 01/11/2024 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.

Bị hại:

  • - Chị Đinh Thị T1, sinh năm 1997. Vắng mặt
  • Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện N, tỉnh Ninh Bình.
  • - Anh Lâm Văn S, sinh năm 1994. Vắng mặt.
  • Nơi cư trú: Ấp R, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh.

Nơi ở hiện tại: Khu tập thể Trung tâm thể dục thể thao tỉnh Ninh Bình thuộc phường Đ, thành phố H, tỉnh Ninh Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Lê Duy Đ là đối tượng không có công ăn việc làm ổn định nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để tiêu sài cá nhân. Khoảng 03 giờ 45 phút ngày 23 tháng 10 năm 2024, Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 34B2 – 922.25, màu đỏ đi từ nhà đến Bệnh viện đa khoa tỉnh N để rút thẻ lấy số thứ tự vào khám bệnh. Sau khi lấy số xong Đ ra lấy xe đi về nhà, trên đường về nhà khi đi qua quán gội đầu dưỡng sinh Khang Y Đ2 tại số nhà D, ngõ C, đường T thuộc phố A, phường Đ, thành phố N (nay là thành phố H) do chị Đinh Thị T1 làm chủ. Đồng thấy cửa quán mở không khóa thì nảy sinh ý định đột nhập vào tìm tài sản trộm cắp. Khi vào trong quán Đ lấy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus bật đèn flash để tìm tài sản ở các phòng nhưng không phát hiện gì. Đồng quay ra phòng lễ tân của quán thì thấy có 01 chiếc túi xách bằng vải màu trắng đen để trên bàn giáp với tường bên phải theo lối đi vào, Đ mở túi xách ra thấy bên trong có 01 chiếc túi xách bằng vải màu trắng đen bên trong có 01 ví cầm tay màu nâu, 01 ví cầm tay hình chữ nhật bên trong có 01 phong bì và giấy tờ tùy thân, Đ bỏ chiếc ví vào túi xách rồi nhanh chóng cầm túi xách ra lấy xe tẩu thoát. Đ điều khiển xe mô tô ra hướng đê sông Đ đến bãi tập kết rác thuộc phường Đ, thành phố H thì dừng xe lại mở chiếc túi xách ra kiểm tra thấy có các giấy tờ tùy thân Đ lại bỏ vào túi xách. Sau đó Đ mở chiếc ví mầu nâu dạng hình chữ nhật lấy phong bì tiền bỏ vào cốp xe rồi lại bỏ ví vào túi xách và vứt toàn bộ túi xách cùng chiếc áo mưa mặc trên người vào bãi tập kết rác sau đó điều khiển xe về nhà. Đến khoảng 14 giờ ngày 23/10/2024, Đ đi sang xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định để giải quyết công việc cá nhân, khi đến gầm cầu vượt cao tốc N, Đ dừng xe mở cốp lấy số tiền vừa trộm cắp ra kiểm tra đếm được 37.700.000 đồng. Toàn bộ số tiền trên Đ đã sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân hết.

Tại bản Cáo trạng số 08/CT-VKSNDTPHL ngày 20 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành thành phố H đã truy tố bị cáo Lê Duy Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, không thay đổi, bổ sung gì và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Lê Duy Đồng phạm T2 “Trộm cắp tài sản”.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Duy Đ từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng, kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Lê Duy Đ cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện Ý, tỉnh Nam Định giám sát

giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Lê Duy Đ có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã H trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, đen bạc, BKS 34B2 – 922.25; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, số IMEI: 353812085585736, lắp sim số 0394400896.

- Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Duy Đ thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; không có ý kiến gì với Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư.

Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1] Về tội danh: Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; Phù hợp với biên bản kiểm tra vụ việc; biên bản khám nghiệm hiện trường; Lời khai của bị hại; Vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Ngày 23/10/2024, bị cáo Lê Duy Đ có hành vi lợi dụng sơ hở, lén lút chiếm đoạt 01 chiếc túi xách bằng vải màu trắng đen bên trong có 01 chiếc ví màu nâu dạng hình chữ nhật, 01 phong bì và giấy tờ tùy thân và số tiền 37.700.000 đồng của chị Đinh Thị T1. Tổng giá trị tài sản Lê Duy Đ đã chiếm đoạt là 37.700.000 đồng.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự trên địa bàn dân cư. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

[3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị

cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo lê Duy Đ không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; sau khi bị cơ quan Công an phát hiện bị cáo đã đã viết đơn xin đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

[4] Về hình phạt: Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, không cần thiết phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo tự cải tạo tại địa phương, dưới sự giám sát của chính quyền cũng đủ răn đe, phòng ngừa. Việc cho bị cáo cải tạo tại địa phương không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội..

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, đen bạc, BKS 34B2 – 922.25; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, số IMEI: 353812085585736, lắp sim số 0394400896 là phương tiện, công cụ để bị cáo Đ thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà Nước.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Đối với chiếc túi xách bằng vải, kẻ caro màu đen - trắng, kích thước (20x25)cm, có chữ "ST" và được thêu chữ "AN NHIÊN" và chiếc ví cầm tay màu nâu nhãn hiệu Louis Đồng trộm cắp được. Chị Đinh Thị T1 yêu cầu Lê Duy Đ bồi thường số tiền 22.000.000 đồng là số tiền chị T1 đã mua số tài sản trên. Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an T3 ra yêu cầu định giá tài sản số 4430 gửi đến Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố N (nay là thành phố H). Ngày 13/11/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố N (nay là thành phố H) có văn bản về việc từ chối định giá tài sản nêu trên do tài sản không đủ các điều kiện cần thiết để tiến hành định giá do không xác định được nguồn gốc xuất sứ, giá trị của tài sản. Tuy nhiên tại phiên toà bị cáo đồng ý bồi thường tài sản trên cho chị T1, tổng giá trị tài sản là 22 triệu đồng. Vì vậy HĐXX cần chấp nhận bị cáo tự nguyện bồi thường cho chị T1.

Đối với số tiền 37.000.000 đồng Đồng trộm cắp được tại cửa hàng của chị Đinh Thị T1, chị Hoàng Thị N (là vợ của Lê Duy Đ) đã bồi thường cho người bị mất là anh Lâm Văn S. Anh S đã nhận đủ số tiền và không có ý kiến gì. HĐXX không xem xét.

Đối với chiếc ví cầm tay hình chữ nhật kích thước (10x15)cm Đồng trộm cắp được. Anh Lâm Văn S không yêu cầu Lê Duy Đ bồi thường. HĐXX không xem xét.

Đối với chiếc túi xách bằng vải màu trắng đen bên trong có 01 chiếc ví màu nâu dạng hình chữ nhật cùng giấy tờ tùy thân Đồng khai báo sau khi trộm cắp được đã vứt ở bãi tập kết rác thuộc phường Đ, thành phố N (nay là thành phố H). Cơ quan CSĐT Công an thành phố T3 (nay là thành phố H) đã phối hợp với Công an phường Đ rà soát tìm kiếm nhưng không truy tìm được. Chị T1 không đề nghị gì, HĐXX không xem xét.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Duy Đồng phạm T2 “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Duy Đ 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Lê Duy Đ cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện Ý, tỉnh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Lê Duy Đ có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã H trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát giáo dục thực hiện theo quy định tại Điều 68 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 BLHS.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; các điều 584, 585, 586 Bộ luật dân sự. Ghi nhận bị cáo Lê Duy Đ tự nguyện bồi thường cho chị Đinh Thị T1 số tiền 22.000.000 đồng.

Kể từ ngày chị Đinh Thị T1 có đơn đề nghị thi hành án cho đến khi thi hành song tất cả các khoản tiền trên (Trừ tiền án phí) thì hàng tháng bị cáo Đ còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành án, theo mức lãi suất được quy định tại điều 357 và khoản 2, Điều 468 Bộ luật dân sự.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, đen bạc, BKS 34B2 – 922.25; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, số IMEI: 353812085585736, lắp sim số 0394400896.

Đặc điểm, số lượng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05 tháng 02 năm 2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hoa Lư.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Duy Đ phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.100.000đ (Một triệu một trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSNDTP Hoa Lư;
  • - Chi Cục THADS TP Hoa Lư;
  • - Công an TP Hoa Lư;
  • - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình;
  • - THA hình sự
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Lưu HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HSST ngày 25/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ - TỈNH NINH BÌNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 24/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ - TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Duy D phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger