Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/DS-PT

Ngày 21-02-2025

“V/v tranh chấp hợp đồng mua bán

cà phê”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông K'Tiêng

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Anh Ửng và ông Dương Hà Ngân

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tú là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Dương Phúc Trường – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 121/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán cà phê”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 50/2024/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R'lấp, tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 01/2025/QĐ-PT ngày 02-01-2025, Quyết định hoãn phiên toà số: 45/2025/QĐ-PT ngày 22-01-2025 và Thông báo mở lại phiên tòa số: 41/2025/TB-TA-DS ngày 10-02-2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đ; địa chỉ: Thôn Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông – Có mặt.

2. Bị đơn: Bà Trần Thị Bích L; địa chỉ: Thôn 1, xã K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông - Có mặt.

Người kháng cáo: Bị đơn bà Trần Thị Bích L

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện đề ngày 20-02-2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Đ trình bày: Ngày 23-01-2022 vợ chồng bà Trần Thị Bích L và ông Trần Văn L1 có cân cà phê nhân khô của ông Đ (gửi tạm tại sân nhà bà P) với số lượng 1.700kg và bà L có viết giấy biên nhận cho ông Đ. Hai bên thoả thuận bằng miệng 01 năm sau ông Đ sẽ chốt giá cà phê và bà L phải trả tiền cho ông Đ theo giá tại thời điểm chốt. Tuy nhiên, bà L cố tình tránh né, cắt liên lạc với ông Đ. Ngày 12-5-2023 ông Đ đến nhà của bà L để chốt giá bán cà phê thì vợ chồng bà L và ông L1 đe doạ, không chịu trả tiền cho ông Đ. Ngày 30-01-2024 ông Đ làm văn bản thông báo yêu cầu bà L trả lại số cà phê ông đã gửi nhưng bà L không phản hồi. Đối với số tiền 77.000.000đồng bà Trần Thị Bích L trả cho ông Đ vào ngày 28-3-2023 thì ông Đ thừa nhận đã nhận tiền nhưng đây là số tiền cân cà phê năm 2021 còn cà phê cân năm 2022 thì bà L chưa trả. Vì vậy, ngày 04-3-2024 ông Đ khởi kiện yêu cầu Toà án buộc bà L trả lại số lượng cà phê nhân 1.700kg hoặc quy thành tiền theo giá thị trường.

2. Bị đơn bà Trần Thị Bích L trình bày: Cuối năm 2022 âm lịch, bà có cân cà phê nhân khô của ông Đ số lượng 1.640kg. Lúc này giá cà phê là 32.000đồng/kg, ông Đ nói khi nào cà phê lên giá sẽ bán. Ngày 23-3-2023 ông Đ đến nhà bà chốt cà phê giá 47.000đồng/kg, thành tiền là 77.000.000đồng. Do không có tiền mặt nên ông L1 sang đại lý T để đổi tiền (ông L1 chuyển khoản sang tài khoản của bà Nguyễn Thị L2 – Chủ đại lý T số tiền 77.000.000 đồng để nhận tiền mặt) và trả cho ông Đ. Sau khi trả, ông Đ đã đưa giấy biên nhận cà phê cho bà L xé bỏ. Vì vậy, bà L không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Đ.

3. Người làm chứng:

3.1. Ông Trần Văn L1 đồng ý với trình bày của bà Trần Thị Bích L, không bổ sung gì thêm.

3.2. Bà Nguyễn Thị L2 trình bày: Bà không biết việc mua bán, gửi giữ cà phê giữa vợ chồng bà Trần Thị Bích L và ông Trần Văn L1 với ông Đ. Vào lúc 19 giờ ngày 28-3-2023 ông L1 có đến đại lý T của bà để đổi tiền, cụ thể: Ông L1 chuyển sang tài khoản của bà số tiền 77.000.000đồng và bà đưa tiền mặt cho ông L1. Khi đổi tiền, ông L1 có nói đổi tiền mặt để trả tiền mua cà phê, còn mua cà phê và trả tiền cho ai thì bà không biết.

4. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 50/2024/DS-ST ngày 24-9-2024 của Toà án nhân dân huyện Đắk R'lấp đã căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 161; Điều 229; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 554, Điều 556, Điều 559; Điều 560 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đ đối với bà Trần Thị Bích L: Buộc bà Trần Thị Bích L phải trả cho ông Nguyễn Đ 1.700kg cà phê Robusta nhân xô.

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên về chi phí giám định, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

5. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04-10-2024, bị đơn bà Trần Thị Bích L kháng cáo yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm số: 50/2024/DS-ST ngày 24-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R'lấp theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đ.

6. Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị Bích L, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 50/2024/DS-ST ngày 24-9-2024 của Toà án nhân dân huyện Đắk R'lấp, tỉnh Đắk Nông.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu lưu trong hồ sơ, đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Đơn kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Bích L nộp trong hạn luật định và đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm là phù hợp theo quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét.

[1.2]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngày 23-01-2022 bà Trần Thị Bích L nhận ký gửi cà phê của ông Đ và hai bên thỏa thuận ông Đ bán cà phê cho bà L nhưng chưa chốt giá nhận tiền. Theo tập quán tại địa phương tỉnh Đắk Nông: Ông Đ đã chuyển quyền sở hữu cà phê cho bà L, bà L đã nhận cà phê, được quyền sử dụng, định đoạt đối với số cà phê ký gửi và có nghĩa vụ thanh toán tiền cho ông Đ theo giá cà phê trên thị trường tại thời điểm ông Đ chốt giá. Ông Đ không được lấy lại cà phê đã ký gửi để bán cho người khác nếu không được sự đồng ý của bà L. Như vậy, thỏa thuận ký gửi cà phê giữa ông Đ và bà L đã thỏa mãn các điều kiện của hợp đồng mua bán tài sản quy định tại Điều 430 của Bộ luật Dân sự, cụ thể: “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán”. Đối với hợp đồng gửi giữ tài sản quy định tại Điều 554 của Bộ luật Dân sự là “sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên giữ nhận tài sản của bên gửi để bảo quản và trả lại chính tài sản đó cho bên gửi khi hết thời hạn hợp đồng...”. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa ông Đ và bà L là “Tranh chấp hợp đồng gửi giữ tài sản” là chưa đúng pháp luật. Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa lại quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản (cà phê) theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 430 của Bộ luật Dân sự.

[1.3]. Về việc giao nhận tài liệu, chứng cứ: Tòa án cấp sơ thẩm không lập biên bản giao nhận lưu hồ sơ vụ án đối với bản gốc Giấy biên nhận viết tay (không đề ngày tháng năm), nội dung: “Đ gửi cà phê L L1 1700kg” là chưa đúng quy định tại khoản 2 Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm nêu ra để Tòa án cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm.

[2]. Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị Bích L, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[2.1]. Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Đ yêu cầu bà L phải trả cho ông Đ 1.700kg hoặc quy đổi thành tiền và cung cấp 03 tài liệu chứng cứ để chứng minh, cụ thể: 01 Giấy biên nhận viết tay (không đề ngày tháng năm), ghi nhận bà L nhận ký gửi của ông Đ 1.700kg cà phê nhân; 01 giấy viết tay mặt trước ghi nhận các mã số lượng cà phê cân năm 2022 (tổng các mã cà phê là 1.700kg) do bà L viết và mặt sau là các mã số lượng cà phê cân năm 2021 do ông Đ viết ra. Đồng thời, ông Đ khẳng định Giấy biên nhận viết tay (không đề ngày tháng năm), được chốt từ các mã số lượng cà phê cân năm 2022. Xét thấy: Bị đơn bà L không thừa nhận các mã số lượng cà phê năm 2021 và tài liệu này do ông Đ viết ra để cung cấp cho Tòa án nên không phải là tình tiết không phải chứng minh, cũng không thỏa mãn là chứng cứ quy định tại Điều 92 và 93 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với các mã số lượng cà phê năm 2022 bà L thừa nhận đúng do bà L viết ra nhưng không thừa nhận đối với Giấy biên nhận viết tay (không đề ngày tháng năm). Tuy nhiên, Kết luận giám định số: 370/KL-KTHS ngày 20-8-2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, đã kết luận: Chữ ký và chữ viết trong Giấy biên nhận viết tay (không đề ngày tháng năm) là của bà L. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định bà L cân cà phê của ông Đ năm 2022 với số lượng 1.700kg cà phê là đúng thực tế.

[2.2]. Quá trình thực hiện hợp đồng, ngày 28-3-2023 bà L đã thanh toán cho ông Đ số tiền 77.000.000đồng tương đương 1.640kg cà phê nhân (giá cà phê là 47.000đồng/kg); việc trả tiền cho ông Đồng bằng tiền mặt, do ông Trần Văn L1 (chồng bà L) đổi tiền mặt từ Đại lý T để trả cho ông Đ, có sao kê tài khoản chứng minh. Bà L khẳng định chỉ cân cà phê của ông Đ một lần duy nhất vào năm 2022. Ông Đ thừa nhận đã nhận số tiền 77.000.000đồng nêu trên nhưng cho rằng là tiền cân cà phê năm 2021, còn cà phê cân năm 2022 thì bà L chưa trả, tuy nhiên ông Đ không đưa ra được chứng cứ chứng minh. Mặt khác, tại phiên tòa phúc thẩm, ông Đ khẳng định đã lấy tiền cà phê năm 2021 trước khi ký gửi cho bà L cà phê năm 2022 (trước ngày 28-3-2023). Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ xác định số tiền 77.000.000đồng bà L trả cho ông Đ vào ngày 28-3-2023 để thanh toán cà phê nhận ký gửi năm 2022 tương ứng với 1.640kg cà phê nhân xô theo giá thị trường 47.000đồng/kg.

[2.3]. Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà L mua của ông Đ 1.700kg cà phê nhân xô nhưng mới thanh toán cho ông Đ số tiền 77.000.000đồng tương ứng với 1.640kg cà phê nhân xô, còn thiếu 60kg. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc bà L phải trả cho ông Đ 1.700kg cà phê nhân xô là không đúng pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bà L, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đ: Buộc bà L phải thanh toán cho ông Đ số tiền còn thiếu tương ứng với 60kg cà phê nhân xô theo giá do Sở Công thương tỉnh Đ niêm yết tại thời điểm xét xử sơ thẩm ngày 24-9-2024 (120.000đồng/kg), thành tiền là 7.200.000đồng.

[3]. Về chi phí giám định: Căn cứ Điều 161 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Do yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết của ông Nguyễn Đ là có căn cứ nên bà Trần Thị Bích L phải chịu chi phí giám định chữ ký, chữ viết. Hoàn trả cho ông Đ số tiền tạm ứng chi phí giám định chữ ký, chữ viết đã nộp.

[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Nguyên đơn ông Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền 196.800.000đồng (tương ứng với 1.640kg cà phê nhân xô) không được chấp nhận. Bị đơn bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền 7.200.000đồng phải trả cho ông Đ.

[5]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận một phần nên bà Trần Thị Bích L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho bà L 300.000₫ tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 430, Điều 440 của Bộ luật Dân sự;

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Bích L, sửa Bản án sơ thẩm số: 50/2024/DS-ST ngày 24-9-2024 của Toà án nhân dân huyện Đắk R'lấp:

1.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đ đối với bà Trần Thị Bích L: Buộc bà Trần Thị Bích L phải trả cho ông Nguyễn Đ số tiền 7.200.000₫ (Bảy triệu hai trăm nghìn đồng).

1.2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đ về việc yêu cầu bà Trần Thị Bích L phải thanh toán cho ông Đ 1.640kg cà phê nhân xô.

2. Về chi phí giám định: Căn cứ Điều 161 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Bà Trần Thị Bích L phải chịu 7.000.000₫ (Bảy triệu đồng) tiền chi phí giám định chữ ký, chữ viết. Do ông Nguyễn Đ đã nộp tạm ứng số tiền 9.000.000₫ (Chín triệu đồng) tại Tòa án để chi phí giám định nên bà Trần Thị Bích L phải hoàn trả cho ông Nguyễn Đ số tiền 7.000.000₫ (Bảy triệu đồng). Tòa án nhân dân huyện Đắk R'lấp đã trả lại cho ông Nguyễn Đ số tiền 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) vào ngày 24-9-2024.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

3.1. Ông Nguyễn Đ phải chịu 9.840.000₫ (Chín triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khẩu trừ vào số tiền 3.230.000₫ (Ba triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002588 ngày 07-3-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk R'lấp, tỉnh Đắk Nông. Ông Nguyễn Đ phải nộp thêm số tiền 6.610.000₫ (Sáu triệu sáu trăm mười nghìn đồng).

3.2. Bà Trần Thị Bích L phải chịu 360.000₫ (Ba trăm sáu mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Bà Trần Thị Bích L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho bà Trần Thị Bích L 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0002995 ngày 11-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk R'lấp, tỉnh Đắk Nông.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Đắk Nông;
  • - TAND huyện Đắk R'lấp;
  • - Chi cục THADS huyện Đ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

(Đã ký)

K'Tiêng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/DS-PT ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về tranh chấp hợp đồng mua bán cà phê

  • Số bản án: 24/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán cà phê
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger