TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 24/2025/HS-ST Ngày: 17-02-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Ninh.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Anh Tuấn và bà Trịnh Thị Lan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Chu Trần Khánh Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2025; đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Thị H, sinh năm 1986; tại Nam Định; nơi cư trú: Thôn L, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình Đ và bà Trần Thị D; Bị cáo chưa có chồng con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 28-9-2020 TAND huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 15-5-2022); bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 28-10-2024, chuyển tạm giam ngày 03-11-2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N; có mặt.
- Người làm chứng:
- + Bà Trần Thị D (Có mặt).
- + Ông Nguyễn Hồng H1 (Vắng mặt).
- + Bà Phạm Thị Thu H2 (Vắng mặt).
- Người chứng kiến: Ông Trần Xuân T (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 40 phút, ngày 28-10-2024, tổ công tác Công an thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực đường vào thôn H, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định phát hiện Trần Thị H điều khiển xe máy biển kiểm soát 18R1-0149 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, thu trong túi áo khoác bên trái H đang mặc 02 gói giấy bạc màu vàng, bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng (H khai là Heroine mang đi bán kiếm lời), toàn bộ bị thu giữ và được niêm phong ký hiệu M1. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Thị H và tạm giữ của H 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 18R1-0149, đã cũ.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Thị H tại thôn L, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định; thu giữ 01 hộp bìa vàng, không có nắp, kích thước (26 x 21x 09) cm trên giường trong phòng khách, trong hộp bìa vàng có: 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 01 túi ni lông màu trắng kích thước (4 x 4,5) cm, chứa 07 gói giấy bạc màu vàng và 01 gói giấy màu trắng, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột dạng cục màu trắng, niêm phong ký hiệu K1; 01 túi ni lông màu trắng kích thước (6 x 4) cm chứa 03 gói giấy bạc màu vàng, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột dạng cục màu trắng, niêm phong ký hiệu K2; 01 hộp bìa màu đỏ, không có nắp, kích thước (14,5 x 8,5 x 5) cm, bên trong có 01 túi ni lông màu trắng kích thước (4 x 5) cm, bên trong túi ni lông có 01 gói giấy màu trắng, trong có 01 túi ni lông màu trắng kích thước (2,5 x 2,5) cm, chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, niêm phong ký hiệu K3. H khai toàn bộ số ma tuý trên H tàng trữ với mực đích bán cho các đối tượng nghiện ma tuý để lấy tiền lời.
Toàn bộ M1, K1, K2, K3 đều được gửi đi giám định.
Ngày 31-10-2024 của Phòng K Công an tỉnh N đã có bản kết luận giám định số: 1804/KL-KTHS kết luận:
- - Mẫu bột dạng cục màu trắng gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Tổng khối lượng mẫu M1: 0,153 gam; Tổng khối lượng mẫu K1: 0,417 gam; Tổng khối lượng mẫu K2: 0,151 gam.
- - Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng được niêm phong ký hiệu K3 gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Khối lượng mẫu K3: 0,143 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Thị H khai nhận: Khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 28-10-2024, H gặp 01 người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) ở khu V, đường T, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định mua 13 gói Heroine giá 70.000 đồng/01 gói và 01 túi ma túy đá giá 200.000 đồng, tổng số tiền mua ma túy là 1.110.000 đồng. H cầm số ma túy về nhà, cất 13 gói Heroine vào trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 túi ma túy đá vào hộp bìa màu đỏ rồi cho tất cả số ma túy vào trong hộp bìa màu vàng mục đích có ai hỏi mua H bán với giá 100.000 đồng/01 gói Heroine (lãi 30.000 đồng/01 gói) và 300.000 đồng/01 túi ma túy đá (lãi 100.000 đồng/01 túi), nếu bán hết số ma túy trên với giá 1.600.000 đồng thì H sẽ thu được khoản tiền lãi là 490.000 đồng. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, H lấy 02 gói Heroine mang đi bán cho khách là đối tượng nghiện ma tuý nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện, bắt giữ.
Tại Cáo trạng số 37/CT-VKS- TPNĐ ngày 20-01-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định đã truy tố Trần Thị H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Trần Thị H khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích bán kiếm lời như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1, 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù; áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng; căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý thu giữ là vật chứng vụ án và 01 hộp bìa màu vàng (Không có nắp) kích thước khoảng (26 x 21 x 9)cm; 01 vỏ bao thuốc là Thăng Long màu vàng; 01 hộp bìa màu đỏ (không có nắp) kích thước khoảng (14,5 x 8,5 x 5)cm; về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Trần Thị H nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Chứng cứ và tội danh đối với hành vi của bị cáo: Căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 28-10-2024; bản kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh N số 1804/KL-KTHS ngày 31-10-2024; biên bản khám xét ngày 28-10-2024; vật chứng của vụ án; lời khai của bị cáo, của người làm chứng, người chứng kiến tại Cơ quan điều tra cùng các tài liệu, chứng cứ khác phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận: Vào hồi 12 giờ 40 phút, ngày 28-10-2024, tại khu vực đường vào thôn H, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định, Trần Thị H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,153 gam Heroine mục đích để bán kiếm lời thì bị phát hiện, bắt quả tang; Cơ quan điều tra khám xét nơi ở của Trần Thị H ở thôn L, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định phát hiện H có hành vi tàng trữ trái phép 0,568 gam Heroine và 0,143 gam Methamphetamine để bán kiếm lời; tổng khối lượng các chất ma tuý trên là: 0,721 gam Heroine + 0,143 gam Methamphetamine = 0,864 gam (không phảy tám trăm sáu mươi bốn gam). Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép ma tuý với mục đích bán kiếm lời của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Như vậy, bị cáo Trần Thị H đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Do đó, quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị cáo: Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi mua bán trái phép chất ma túy là loại chất gây nghiện Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; hành vi của bị cáo là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn xã hội, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó phải buộc bị cáo chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình; cần phải áp dụng loại hình phạt cũng như mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng, đồng thời cũng là để răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.
Về nhân thân: Bị cáo H có nhân thân xấu, đã bị xét xử về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Đường lối xử lý về hành vi phạm tội của các bị cáo:
- Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như động cơ mục đích phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy, ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo kém, bị cáo 01 lần bị kết án về tội mua bán trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để cải tạo bản thân mà tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo và tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi môi trường ngoài xã hội một thời gian nhất định nữa thì mới có thể cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo phạm tội với mục đích vụ lợi,nhằm thu lời bất chính nên áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
[5] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với số ma tuý là vật chứng vụ án được niêm phong trong 01 phong bì hoàn trả mẫu vật gửi giám định số 1804/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh N (M1 + K1 + K2 + K3): Xét các mẫu vật này thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành. Do đó tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định của pháp luật.
- - Đối với các vật chứng thu giữ khác gồm: 01 hộp bìa màu vàng (Không có nắp) kích thước khoảng (26 x 21 x 9)cm; 01 vỏ bao thuốc là Thăng Long màu vàng; 01 hộp bìa màu đỏ (không có nắp) kích thước khoảng (14,5 x 8,5 x 5)cm: Không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ là phù hợp với quy định của pháp luật.
[6] Về các vấn đề khác trong vụ án:
- - Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 18R1-0149: Đây là tài sản hợp pháp của bà Trần Thị M, sinh năm 1972, trú tại: Số A, đường C, phường Q, thành phố N. Bà M không biết H mượn xe đi bán ma túy nên việc cơ quan điều tra trả lại xe cho bà M là phù hợp với quy định của pháp luật
- - Đối với người đàn ông bán ma tuý cho Trần Thị H: Cơ quan Cảnh sát điều tra không xác định được thông tin, địa chỉ đối tượng bán ma túy cho Trần Thị H nên không có căn cứ xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Thị H bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Thị H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Thị H 03 năm 09 tháng (Ba năm chín tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày 28-10-2024. Phạt bổ sung bị cáo 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
2. Xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ số ma tuý là vật chứng vụ án được niêm phong trong 01 phong bì hoàn trả mẫu vật gửi giám định số 1804/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh N (M1 + K1 + K2 + K3); 01 hộp bìa màu vàng (Không có nắp) kích thước khoảng (26 x 21 x 9)cm; 01 vỏ bao thuốc là Thăng Long màu vàng; 01 hộp bìa màu đỏ (không có nắp) kích thước khoảng (14,5 x 8,5 x 5)cm.
(Chi tiết vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24-01-2025 giữa Công an thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định).
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc cáo Trần Thị H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Thị H được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiện thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hải Ninh |
Bản án số 24/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 24/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma tuý
