TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 24/2025/HS-PT Ngày: 17-02-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tuấn Anh.
Ông Nguyễn Ngọc Thông.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Giang Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 312/2024/TLPT-HS ngày 31 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Hồ Văn L và Nguyễn Chí L1. Do có kháng cáo của bị cáo Hồ Văn L và Nguyễn Chí L1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 58/2024/HS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Hồ Văn L, sinh năm: 2002, tại tỉnh Đồng Tháp; HKTT và chỗ ở: ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hồ Văn T, sinh năm: 1971 và bà Huỳnh Thị C, sinh năm: 1969; Bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ con: Chưa có; Tiền sự, tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 20/5/2024; tạm giam ngày 23/5/2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
2. Nguyễn Chí L1, sinh năm: 2004, tại tỉnh Đồng Tháp; HKTT và chỗ ở: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn L2, sinh năm: 1977 và bà Nguyễn Thị C1, sinh năm: 1976; Bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con út trong gia đình; Vợ con: Chưa có; Tiền sự: 01 lần vào ngày 11/9/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh ra Quyết định số 18, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng, kể từ ngày 12/8/2023 đến ngày 12/5/2024, chấp hành xong vào ngày 12/5/2024; Tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 19/5/2024; tạm giam ngày 25/5/2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa cho bị cáo Hồ Văn L theo yêu cầu: Luật sư Hồ Trung C2 – Công ty L3, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; Địa chỉ: 1, V, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong vụ án còn có các bị hại Phạm Văn T1, Trần Thị Cẩm N; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- Về hành vi Cướp tài sản: Vào khoảng 23 giờ, ngày 15/5/2024, sau khi đi chơi tại thành phố C về, các bị cáo L, L1 cùng với người bạn tên Nguyễn Văn Trí K thuê phòng ở khách sạn P thuộc xã M, thành phố C để ngủ qua đêm. Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 16/5/2024, bị cáo L mượn K 01 cái áo sơ mi sọc caro màu nâu, trắng, đen, đỏ, nhãn hiệu BURBERRY, 01 nón bảo hiểm màu trắng và xe mô tô biển số 66F1-883.00 loại xe Vario màu cam - đen - bạc, rồi rủ bị cáo L1 tiếp tục đi chơi, K đồng ý cho các bị cáo mượn các tài sản trên.
Khi đi bị cáo L1 điều khiển xe mô tô (nêu trên) chở L chạy vòng thành phố C, sau đó điều khiển xe chạy lên hướng T đi Hồ N, khi đến đoạn đường thuộc ấp T, xã T, huyện T thì nhìn thấy anh Phạm Văn T1 (tên thường gọi O) sinh năm 1987, trú tại ấp T, xã T đang ngồi ở lề đường đón xe đi thành phố Hồ Chí Minh nên L1 và L nảy sinh ý định cướp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài. Lúc này, L1 điều khiển xe quay lại tiếp cận, áp sát vào anh T1, bị cáo L1 ngồi trên xe lớn giọng đe dọa, hỏi “Mày phải Mi bán số đề hông? Tao hình sự nè”, T1 trả lời “Không phải, tôi tên O chứ không phải tên M”. Vừa nói xong, bị cáo L ngay tức khắc bước xuống xe khống chế đòi kiểm tra túi xách anh T1 đang đeo trên người, anh T1 không đồng ý thì L đe dọa đòi bắt, do hoảng sợ nên anh T1 đưa L kiểm tra túi xách, L phát hiện trong túi xách có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A20s, màu xanh nên lấy điện thoại cầm trên tay rồi lên xe cùng bị cáo L1 tẩu thoát, nhưng anh T1 nắm được yên xe phía sau kéo lại, bị cáo L1 tăng ga kéo lê anh T1 khoảng 02 mét, anh T1 không kéo lại nổi nên buông ra và truy hô kêu cứu thì các bị cáo đã chạy thoát.
- Về hành vi Cướp giật tài sản: Sau khi thực hiện hành vi cướp tài sản nêu trên, bị cáo L1 chở bị cáo L chạy đến ngã tư T thì quẹo trái hướng vô huyện T, bị cáo L1 điều kiển xe chạy đến huyện T rồi theo đường nông thôn về xã A, huyện T. Khi ra Quốc lộ C L cho xe chạy về hướng xã T, đến Chợ T5 thì cho xe quẹo phải hướng ra bên đò Doi Lửa, khi đến bến đò thì Lâm đổi cho bị cáo L thay thế điều kiển xe chạy ngược lại hướng ra Quốc lộ C. Đến khoảng 03 giờ 40 phút cùng ngày, đến đoạn đường vắng thuộc ấp T, xã T phát hiện chị Trần Thị Cẩm N, sinh năm: 1996, trú tại ấp T, xã T đang điều khiển xe mô tô loại xe Wave a màu đỏ đen, biển số 66B1-327.11 đi cùng chiều phía trước, bị cáo L điều khiển xe áp sát chặn xe của chị N tấp vào lề đường, hai xe dừng lại. Lúc này, bị cáo L1 nhìn thấy trên baga xe của chị N có để 01 túi xách bằng vải jean màu xanh nên bị cáo L1 ngồi trên xe hỏi “Phải bà T2 không”, chị N trả lời “Bà T2 nào”, bị cáo L1 bước xuống đi bộ lại xe chị N nhanh chóng giật lấy túi xách, rồi lên xe cho bị cáo L điều khiển xe chạy tẩu thoát.
Khi điều khiển xe đến đoạn đường thuộc ấp T, xã T, huyện T thì các bị cáo dừng xe kiểm tra túi xách đã giật được tìm tài sản có giá trị để lấy thì thấy bên trong có: 01 cây dao loại dao sửa cá có cán, lưỡi bằng kim loại màu trắng bạc; 01 bộ đồ bảo hộ màu trắng loại đồ công nhân công ty không nhớ rõ đặc điểm; 01 bình nước giữ nhiệt bằng kim loại màu trắng bạc và một số giấy tờ cá nhân của chị N không có giá trị, nên bị cáo L1 vứt bỏ tất cả xuống lề đường rồi lên xe bị cáo L điều khiển xe chạy về khách sạn P1.
Đến khoảng 06 giờ ngày 16/5/2024, K thức dậy hỏi L và L1 đi đâu, bị cáo L1 trả lời đi công chuyện, rồi K lấy xe đi về trước. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, bị cáo L1 một mình đem điện thoại đã cướp được đến tiệm điện thoại “Thanh Tâm” thuộc khóm M, phường M, thành phố C bán cho chủ cửa hàng là anh Lê Thanh T3, sinh năm 1985, cư trú khóm M, phường M, thành phố C, được số tiền 700.000₫ (Bảy trăm nghìn đồng) và cùng bị cáo L tiêu xài hết số tiền trên.
Vụ việc được anh Phạm Văn T1, chị Trần Thị Cẩm N trình báo Công an xã T xác minh làm rõ. Qua truy xuất dữ liệu camera, Cơ quan điều tra đã mời bị cáo L1 đến làm việc, còn bị cáo L thì sau đó đến Cơ quan điều tra Công an huyện T đầu thú và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Đồng thời, Cơ quan điều tra Công an huyện T tiến hành thu hồi được toàn bộ số tài sản của các bị hại anh T1 và chị N.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 72/KL-HĐ ngày 10/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A20s, màu xanh trị giá: 1.600.000đ (Một triệu sáu trăm nghìn đồng). Cơ quan điều tra đã trao trả lại điện thoại cho anh Phạm Văn T1 xong.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 74/KL-HĐ ngày 10/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận:
- - 01 túi xách bằng vải Jean, màu xanh trị giá: 90.000 đồng.
- - 01 cây dao loại dao sửa cá có cán, lưỡi bằng kim loại màu trắng bạc trị giá: 50.000 đồng.
- - 01 cặp bao tay bằng cao su màu xanh trị giá: 40.000 đồng.
- - 01 tạp dề bằng nylon màu trắng trong suốt trị giá: 30.000 đồng.
- - 01 khẩu trang vải một mặt màu xanh dương, một mặt màu xanh xám, mặt màu xanh xám có dòng chữ CHANEL trị giá: 15.000 đồng.
- - 01 cặp bao tay hở ngón bằng vải len màu đỏ - trắng - xanh, trị giá: 15.000 đồng.
- - 01 bình nước giữ nhiệt bằng kim loại màu trắng bạc trị giá: 85.000 đồng.
- - 01 bộ đồ bảo hộ bằng vải màu trắng trị giá: 105.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản của chị Trần Thị Cẩm N là: 430.000đ (Bốn trăm ba mươi nghìn đồng); Cơ quan điều tra đã trao trả lại tài sản cho chị N xong và chị N không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Vật chứng thu giữ và xử lý gồm:
- - 02 (Hai) tệp dữ liệu video ghi lại diễn biến vụ việc cướp tài sản và cướp giật tài sản ngày 16/5/2024 (lưu kèm hồ sơ vụ án). Tại Bản kết luận giám định số 1230/KL-KTHS ngày 09/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận: 02 tệp video gửi giám định không bị cắt ghép chỉnh sửa về nội dung hình ảnh.
- - 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Vario, màu cam - bạc - đen, biển số 66F1-883.00, số máy KF41E2061045, số khung MH1KF4127LK056924 do anh Nguyễn Văn M1 (cha của K), sinh năm 1972, cư trú ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp đứng tên giấy đăng ký. Việc các bị cáo L1, L mượn đi thực hiện hành vi phạm tội thì ông M1 và anh K không biết, nên Cơ quan điều tra đã trao trả cho ông M1 xong.
- - 01 (Một) áo sơ mi ngắn tay sọc caro màu nâu, đen, trắng, hiệu BURBERRY; 01 nón bảo hiểm màu trắng, hiệu Nón Sơn của K cho bị cáo L mượn đi chơi. Việc bị cáo L mượn đi thực hiện hành vi phạm tội, K không biết nên Cơ quan điều tra đã trao trả cho K xong.
- - Trong quá trình điều tra, các bị cáo Hồ Văn L và Nguyễn Chí L1 đã tự nguyện giao nộp số tiền khắc phục hậu quả cho người bị hại là mỗi bị cáo nộp 700.000₫ (Bảy trăm nghìn đồng).
Về trách nhiệm dân sự: Anh Phạm Văn T1, chị Trần Thị Cẩm N đã nhận lại tài sản, nên không có yêu cầu bồi thường gì thêm, chỉ yêu cầu xử lý hình sự các bị cáo theo quy định pháp luật.
Anh Lê Thanh T3 không có yêu cầu các bị cáo L1, L trả lại số tiền mua bán điện thoại 700.000 đồng, anh T3 tự nguyện không nhận lại tiền.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 58/2024/HS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Hồ Văn L, Nguyễn Chí L1 cùng phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 168 và khoản 1 Điều 171; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Hồ Văn L 04 (bốn) năm tù, về tội “Cướp tài sản” và 02 (hai) năm tù, về tội “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt chung đối với 02 (hai) tội danh nêu trên là 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 20/5/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 168 và khoản 1 Điều 171; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí L1 04 (bốn) năm tù, về tội “Cướp tài sản” và 02 (hai) năm, 03 (ba) tháng tù, về tội “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt chung đối với 02 (hai) tội danh nêu trên là 06 (sáu) năm, 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 19/5/2024.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 03 tháng 12 năm 2024, các bị cáo Hồ Văn L và Nguyễn Chí L1 cùng có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo Hồ Văn L và Nguyễn Chí L1 bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Cướp tài sản” và tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 168 và khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi án sơ thẩm tuyên, các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do các bị hại Trần Thị Cẩm N và Phạm Văn T1 có đơn xin bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, các bị cáo trình bày là gia đình có công cách mạng, được cấp sổ hộ nghèo nhưng các bị cáo không có gì để chứng minh. Xét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Hồ Văn L và Nguyễn Chí L1. Giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Hồ Văn L và Nguyễn Chí L1.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Hồ Văn L phát biểu quan điểm bào chữa: Thống nhất với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều khoản tội danh áp dụng đối với bị cáo L. Vị luật sư phân tích về nguyên nhân, động cơ, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo đồng thời nêu ra các tình tiết giảm nhẹ như: Sau khi phạm tội bị cáo đã đi đầu thú và tác động gia đình khắc phục toàn bộ thiệt hại cho các bị hại; các bị cáo nhất thời phạm tội, đồng phạm giản đơn, tài sản chiếm đoạt không lớn. Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị hại tiếp tục có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Các bị cáo ăn năn hối cải, cam kết không tái phạm. Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L, áp dụng mức hình phạt đầu khung đối với bị cáo.
Các bị cáo Hồ Văn L và Nguyễn Chí L1 không tranh luận. Bị cáo L không bào chữa bổ sung. Nói lời sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa bị cáo Hồ Văn L và Nguyễn Chí L1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị cáo đồng phạm, bị hại và người liên quan và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở để xác định: Vào lúc 02 giờ 30 phút, ngày 16/5/2024 tại đoạn đường vắng (Quốc lộ C) thuộc địa bàn ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Các bị cáo L và L1 đã đe dọa, uy hiếp tinh thần làm cho anh T1 hoảng sợ, lâm vào tình trạng không thể chống cự được để cướp tài sản của anh T1 là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A20s, màu xanh trị giá 1.600.000 đồng (Một triệu sáu trăm nghìn đồng). Đến khoảng 03 giờ 40 phút cùng ngày, các bị cáo đến đoạn đường vắng thuộc ấp T, xã T phát hiện chị Trần Thị Cẩm N đang điều khiển xe mô tô loại xe Wave a màu đỏ đen, biển số 66B1-327.11 đi cùng chiều phía trước, bị cáo L điều khiển xe áp sát chặn xe của chị N tấp vào lề đường, bị cáo L1 bước xuống đi bộ lại xe chị N nhanh chóng giật lấy túi xách, rồi lên xe cho bị cáo L điều khiển xe tẩu thoát.
[2] Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo Hồ Văn L và Nguyễn Chí L1 là người đã trưởng thành, có thể chất, tinh thần phát triển bình thường, có khả năng điều khiển hành vi, nhận thức được pháp luật, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Các bị cáo nhận thức được tài sản hợp pháp của con người luôn được pháp luật bảo vệ. Nếu người nào có hành vi xâm phạm đến tài sản của người khác một cách trái pháp luật cũng đều bị xử lý. Thế nhưng với ý thức xem thường pháp luật, không tôn trọng tài sản của người khác nên các bị cáo đã có hành vi như đã nêu trên. Khi thực hiện hành vi, các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật và sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng các bị cáo vẫn thực hiện. Chứng tỏ hành vi của các bị cáo là cố ý trực tiếp và tội phạm đã hoàn thành.
[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Hồ Văn L và Nguyễn Chí L1 về các tội “Cướp tài sản”, “Cướp giật tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi án sơ thẩm tuyên, các bị cáo Hồ Văn L và Nguyễn Chí L1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, có cung cấp tình tiết mới là các bị hại Trần Thị Cẩm N và Phạm Văn T1 có đơn xin bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm chưa xem xét chi bị cáo. Tuy nhiên, trong vụ án này, các bị cáo sử dụng phương tiện xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Vario là nguồn nguy hiểm cao độ để thực hiện việc cướp tài sản của anh T4 và cướp giật tài sản của chị N. Khi anh T1 nắm được yên xe phía sau kéo lại, bị cáo L1 tăng ga kéo lê anh T1 khoảng 02 mét trên đường. Ngoài ra, các bị cáo còn dùng thủ đoạn giả Công an để đe doạ, lục soát để cướp tài sản của bị hại, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến hình tượng, uy tính ngành Công an. Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Lẽ ra, các bị cáo phải bị xét xử về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 và tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự nhưng cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo theo khoản 1 Điều 168 và khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự là đã có lợi cho các bị cáo. Cấp sơ thẩm cũng đã có xem xét về nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Hồ Văn L và Nguyễn Chí L1, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo.
[4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo Hồ Văn L và Nguyễn Chí L1 là có căn cứ và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét đề nghị của người bào chữa cho bị cáo L tại phiên tòa là cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét giải quyết vụ án.
[5] Do kháng cáo của bị cáo Hồ Văn L và Nguyễn Chí L1 không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Hồ Văn L và Nguyễn Chí L1. Giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo Hồ Văn L và Nguyễn Chí L1.
- Tuyên bố các bị cáo Hồ Văn L và Nguyễn Chí L1 cùng phạm các tội “Cướp tài sản” và tội “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 168 và khoản 1 Điều 171; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Hồ Văn L 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp tài sản” và 02 (hai) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự;
Tổng hợp hình phạt chung của hai tội, buộc bị cáo Hồ Văn L phải chấp hành là 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 168 và khoản 1 Điều 171; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí L1 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp tài sản” và 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.
Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự;
Tổng hợp hình phạt chung của hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Chí L1 phải chấp hành là 06 (sáu) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/5/2024.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo Hồ Văn L và Nguyễn Chí L1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Khắc Thịnh |
Bản án số 24/2025/HS-PT ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự phúc thẩm về tội cướp tài sản và cướp giật tài sản
- Số bản án: 24/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Cướp tài sản và Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cướp tài sản và Cướp giật tài sản
