Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:24/2025/HS-ST

Ngày: 07-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tư và bà Ngô Thị Vân
  • Thư ký phiên tòa: Bà Tống Lan Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 07 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Âu Văn M, sinh năm 1996, tại Lạng Sơn.

Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn S, xã Đ, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa 06/12.

Bố: Âu Văn H (đã chết).

Mẹ: Thân Thị N, sinh năm 1967

Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ hai.

Vợ, con: Không.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/11/2024 đến ngày 09/01/2025. Hiện bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và tại ngoại (có mặt).

- Bị hại:

1. Chị Đỗ Thị H1, sinh năm 1985 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

Nơi làm việc: Nhà hàng V, đường H, tổ dân phố X, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Thân Văn Q, sinh năm 1988 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn Sẩy, xã Đồng Tân, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn

2. Anh Nguyễn Mạnh H2, sinh năm 1998 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số nhà A, đường C, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Âu Văn M, sinh năm 1996, trú tại thôn S, xã Đ, huyện H, tỉnh Lạng Sơn là em trai anh Âu Văn Q1, sinh năm 1995, trú tại thôn N, xã T, thành phố B. Ngày 08/11/2024, anh Q1 mời M ngày hôm sau đến nhà hàng V ở thôn X, xã T (nay là tổ dân phố X, phường T), thành phố B dự liên hoan để anh Q1 chuẩn bị đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản.

Buổi tối ngày 09/11/2024, anh Âu Văn Q1 cùng Âu Văn M, chị Đoàn Thị T, sinh năm 1999 là vợ anh Q1 và anh Thân Văn T1, sinh năm 1997, trú tại thôn T, xã D, thành phố B đến nhà hàng V. Mọi người ăn uống tại bàn số 2 tầng một của nhà hàng.

Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày sau khi ăn uống xong, anh Q1 đi ra thanh toán tiền. Chị Đỗ Thị H1, sinh năm 1985, trú tại thôn Đ, xã T (nay là tổ dân phố X, phường T), thành phố B là quản lý nhà hàng đi đến để thanh toán tiền và để chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A76 (vỏ và ốp nhựa màu xanh, bộ nhớ 128GB, gắn sim số 0385.226.366, mật khẩu màn hình là 0000) ở trên mặt bàn bên cạnh. Sau khi nhận tiền do anh Q1 thanh toán, chị H1 đi dọn dẹp nhà hàng. Anh Q1, anh T1 và chị T đi ra ngoài để về nhà. Lúc này, M nhìn thấy chiếc điện thoại di động của chị H1 đang để trên mặt bàn bên cạnh nên nảy sinh ý định trộm cắp. M dùng tay trái cầm chiếc điện thoại rồi cất vào chiếc túi đeo trước ngực. Sau đó, M đi ra ngoài rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà ở thôn S, xã Đ, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.

Buổi sáng ngày hôm sau, M kiểm tra điện thoại đã trộm cắp của chị H1 và thử các mật khẩu màn hình. Khi M thao tác bấm “0000” thì mở được mật khẩu màn hình điện thoại. M thấy có nhiều tin nhắn Zalo của chị H1 gửi đến bảo trả lại điện thoại. Do sợ bị phát hiện nên M đã tháo sim, tắt nguồn và cất giấu chiếc điện thoại trong phòng ngủ.

Khoảng 12 giờ ngày 15/11/2024, M đi xe máy mang theo chiếc điện thoại đi đến thị trấn H, tỉnh Lạng Sơn để bán. Trên đường đi, M tháo vỏ ốp nhựa và sim điện thoại rồi vứt đi. M đi đến cửa hàng điện thoại của anh Nguyễn Mạnh H2, sinh năm 1998 ở số nhà A đường C, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn đặt vấn đề bán điện thoại. M nói với anh H2 là điện thoại của M và cung cấp mật khẩu “0000”. Anh H2 đồng ý mua chiếc điện thoại và bảo M tự thoát các ứng dụng trên điện thoại và trả cho M 1.000.000 đồng tiền mặt. M cầm tiền đi về và chi tiêu hết.

Ngày 15/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xác minh, triệu tập Âu Văn M đến làm việc, M đầu thú và khai nhận hành vi trộm cắp chiếc điện thoại của chị Đỗ Thị H1.

Cùng ngày, anh Nguyễn Mạnh H2 giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A76, vỏ màu xanh, IMEI1: 869571059117572, IMEI2: 869571059117564, không gắn sim và 01 file video ghi lại hình ảnh M đến cửa hàng của anh H2 bán điện thoại.

Kết luận định giá tài sản 278/KL-HĐ ngày 20/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:

  • + 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A76, vỏ màu xanh, bộ nhớ 128GB đã qua sử dụng, mua mới năm 2022 trị giá tại thời điểm ngày 09/11/2024 là 2.300.000 đồng.
  • + 01 chiếc ốp điện thoại bằng nhựa màu xanh đã qua sử dụng, mua mới năm 2022 trị giá 20.000 đồng.
  • + Tiền công cấp lại sim số điện thoại 0385.226.xxx là 35.000 đồng.

Tổng giá trị là 2.355.000 đồng.

Về xác minh, xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại chị Đỗ Thị H1 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A76, vỏ màu xanh, không có sim.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Thân Văn Q, sinh năm 1988, trú tại thôn S, xã Đ, huyện H, tỉnh Lạng Sơn là anh em cùng mẹ khác cha với Âu Văn M đã bồi thường cho anh Nguyễn Mạnh H2 số tiền 1.000.000 đồng. Chị H1 và anh H2 không yêu cầu bị cáo M bồi thường gì thêm.

Tại Bản cáo trạng số 29/CT-VKS ngày 09 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Âu Văn M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Âu Văn M khai nhận diễn biến sự việc như bản Cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận đã trộm cắp 01 điện thoại di động Oppo A76 màu xanh của chị H1 tại nhà hàng V ở thôn X, xã T (nay là tổ dân phố X, phường T), thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

Bị cáo thấy Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh, điều, khoản trên là đúng người, đúng tội.

Anh Thân Văn Q trình bày đã đứng ra bồi thường cho anh Nguyễn Mạnh H2 số tiền 1.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền này.

Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo, anh Q nhất trí, không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Âu Văn M từ 06 tháng đến 08 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 04 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo, anh Q không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp. Chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập là hợp pháp. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng:

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh H2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án, đã có lời khai thể hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ và không ai có yêu cầu gì, nên vắng mặt họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người trên.

[3] Về tội danh: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Kết quả khám nghiệm hiện trường, kết quả thực nghiệm điều tra, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa đủ căn cứ xác định:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 09/11/2024, bị cáo M thực hiện hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A76 của chị Đỗ Thị H1 là quản lý nhà hàng V tại thôn X, xã T (nay là tổ dân phố X, phường T), thành phố B, tỉnh Bắc Giang để trên mặt bàn ăn của quán (chiếc điện thoại có vỏ và ốp nhựa màu xanh, bộ nhớ 128GB, gắn sim số 0385.226.366, tổng trị giá 2.355.000 đồng).

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Giá trị tài sản trộm cắp là 2.355.000 đồng nên đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo theo tội danh, điều, khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tội, bị cáo đầu thú, đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

[5] Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có khả năng tự cải tạo nên đủ điều kiện để hưởng án treo theo quy định tại Điều 2, Điều 3 Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

Do vậy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù giam mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát theo Điều 65 Bộ luật Hình sự với mức hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát đã đảm bảo giáo dục, răn đe bị cáo. Bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5, Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Chị Đỗ Thị H1, anh Nguyễn Mạnh H2 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Anh Thân Văn Q không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền đã bồi thường. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[7] Vấn đề khác: Anh Nguyễn Mạnh H2 có hành vi mua chiếc điện thoại di động do bị cáo M đem đến bán nhưng không biết là tài sản do M trộm cắp mà có nên không có căn cứ xử lý anh H2 về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[9] Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 2, Điều 3 Nghị quyết số 02/VBHN- TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo:
  2. Xử phạt bị cáo Âu Văn M 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách là 01 (Một) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 07/02/2025).

    Giao bị cáo Âu Văn M cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - CQCSĐT - CA TP Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - UBND xã Đồng Tân;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HS-ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 24/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger