|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST Ngày: 07 – 02 – 2025 V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP - TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lữ Thành Đồng
Các Hội Thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dương
Ông Nguyễn Thế Tự
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Công Trận, là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
Ngày 07 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 626/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 250/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 19 tháng 12 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1995 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
- Bị đơn: Chị Huỳnh Thị Diễm P, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
Chổ ở hiện nay: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn anh Lê Văn T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn T và chị Huỳnh Thị Diễm P tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
Nguyên nhân mâu thuẫn: Vợ chồng sống chung hạnh phúc được một thời gian, sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, do vợ không chăm lo đời sống gia đình, thường xuyên nhậu nhẹt, từ đó mà vợ chồng không còn quan tâm chia sẽ nhau trong mọi việc. Mặc dù vợ chồng đã nhiều lần hàn gắn nhưng vẫn không có kết quả. Vì vậy, anh T cương quyết yêu cầu được ly hôn với chị P.
Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Văn N (nam), sinh ngày 17/7/2014. Cháu N hiện đang sống với chị P, khi ly hôn anh T đồng ý giao cho chị P được tiếp tục nuôi dưỡng.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Huỳnh Thị Diễm P đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên không ghi nhận được ý kiến của chị P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích và đánh giá về những chứng cứ, những tình tiết của vụ án, hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Nguyên đơn anh Lê Văn T khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với bị đơn chị Huỳnh Thị Diễm P. Đối chiếu theo quy định tại Điều 28, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 51, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì quan hệ pháp luật trong vụ kiện này là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. Bị đơn chị Huỳnh Thị Diễm P cư trú tại ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang theo quy định tại Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn T, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn T và chị Huỳnh Thị Diễm P tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang nên hôn nhân của anh chị là phù hợp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Trong quá trình sống chung, anh T cho rằng cuộc
sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, mặc dù vợ chồng nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả nên anh chị đã không còn sống chung với nhau từ năm 2017 cho đến nay. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Văn N (nam), sinh ngày 17/7/2014. Cháu N hiện đang sống với chị P, khi ly hôn anh T đồng ý giao cho chị P được tiếp tục nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử thấy rằng: Từ khi sinh ra thì cháu sống chung với vợ chồng anh chị nhưng từ khi anh chị không còn sống chung với nhau thì cháu sống với chị P, được chị P chăm sóc, lo lắng cho cháu đầy đủ. Hơn nữa, cháu N trên 07 tuổi, cháu có nguyện vọng được sống với chị P. Vì vậy, để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện về tâm sinh lý cũng như ổn định cuộc sống cho cháu, Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu N cho chị P được tiếp tục nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị P chưa yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản chung: Không có, nên không xem xét.
Về nợ chung: Không có, nên không xem xét.
[3]. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc anh T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 9; Điều 51; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Lê Văn T đối với chị Huỳnh Thị Diễm P. Cho anh Lê Văn T được ly hôn với chị Huỳnh Thị Diễm P.
Về con chung: Chị Huỳnh Thị Diễm P được tiếp tục nuôi con chung là cháu Lê Văn N (nam), sinh ngày 17/7/2014. Anh Lê Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị P chưa yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản chung: Không có, nên không xem xét.
Về nợ chung: Không có, nên không xem xét.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn Lê Văn T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được chuyển từ tạm ứng án phí sang án phí theo biên lai thu số 0007240 lập ngày 11/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lữ Thành Đồng |
Bản án số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 24/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xin ly hôn
