|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 24/2025/HSST Ngày: 07-02-2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Phạm Thị Ngọc.
- Bà Nguyễn Phước Trinh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thành Công là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2025/HSST ngày 07 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Hữu T, sinh ngày: 09/7/1996; Giới tính: Nam; Tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Hữu N và bà Hòa Thị M; Anh chị em ruột có 02 người (kể cả bị cáo); vợ con chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Năm 2018, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng theo Quyết định số 251/QĐ-TA ngày 10/8/2018;
Năm 2024, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng theo Quyết định số 129/QĐ-TA ngày 10/5/2024.
Bị cáo bắt tạm giam từ ngày 25/10/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên Toà.
Người bị hại: Bà Đặng Phan Hạnh T1, sinh năm: 1991; (vắng mặt)
Địa chỉ: Số H đường T, Tổ D, Khu phố C, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Bùi Trọng T2, sinh năm: 1991; (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, Tp .;
2. Ông Huỳnh Văn T3, sinh năm: 1975; (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Hữu T nghiện chất ma túy và cần tiền tiêu xài, mua chất ma túy sử dụng nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài. Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 22/02/2024, T điều khiển xe hiệu Honda loại Wave, biển số 59Y3-691.13 đi từ nhà tại Tổ 1, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh hướng ra đường N rồi tiếp tục rẽ vào đường T đến trước nhà số H, đường T, Khu phố C, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì T phát hiện 01 cây hoa giấy cao khoảng 02m, tán cây rộng khoảng 50cm, hoàng gốc khoảng 50cm không thấy người trông giữ. Lúc này, T dừng xe cách vị trí cây bông giấy trên khoảng 1m, T lén lút đi đến vị trí cây bông giấy dùng 02 tay nhổ cây bông giấy mang để lên xe rồi điều khiển xe chở cây hoa giấy về nhà. Đến khoảng 10 giờ 00 phút ngày 23/02/2024, T điện thoại cho Bùi Trọng T2 nói T có 01 cây hoa giấy muốn bán và kêu T2 đến nhà T xem cây hoa giấy. Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 23/02/2024, T2 đến nhà T xem và đồng ý mua cây hoa giấy với giá 1.000.000 đồng, T2 đưa T số tiền 1.000.000 đồng và T2 chở cây hoa giấy đi. Sau khi mua được cây hoa giấy, T2 chở đến nhà Huỳnh Văn T3 tặng cho T3.
Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 23/02/2024, Đặng Phan Hồng T4 ra trước nhà thì phát hiện cây hoa giấy để trước nhà đã bị mất, chị T4 coi lại Camera tại nhà phát hiện khoảng 23 giờ 45 phút ngày 22/02/2024, có một người thanh niên đã nhổ trộm cây hoa giấy bỏ lên xe gắn máy chạy đi. Ngày 28/02/2024, chị T4 đến Công an thị trấn C trình báo và cung cấp video clip ghi nhận hình ản đối tượng nhổ trộm cây hoa giấy của nhà chị, chị T4 khai mua cây hoa giấy trên vào tháng 01/2024 với giá 5.000.000 đồng.
Ngày 26/02/2024, T2 nghi vấn cây hoa giấy do T trộm cắp mà có nên yêu cầu T3 trả lại cho chủ sở hữu là chị Đặng Phan Hạnh T1 và T3 đã trả lại cây hoa giấy trên cho chị T1.
Bản Kết luận định giá tài sản số: 90/KL-HĐĐGTS ngày 02/7/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân huyện C, kết luận: 01 cây hoa giấy cao khoảng 02m, tán rộng khoảng 50cm, hoàng gốc khoảng 50cm, có giá trị 2.400.000 đồng.
Vật chứng thu giữ: 01 xem mô tô hiệu Honda loại Wave, biển số 59Y3-691.13, số máy: JA39E218969, số khung RLHJA3926MY064669. Qua xác minh xe mô tô trên do Phạm Hữu T đứng tên chủ sở hữu.
Bản cáo trạng số: 34/CT- VKSCC ngày 06 tháng 01 năm 2025, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo Phạm Hữu T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa: Bị cáo Phạm Hữu T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Bị cáo T đồng ý nộp lại số tiền 1.000.000đồng vào ngân sách nhà nước, vì anh T2 không nhận lại số tiền 1.000.000đồng từ bị cáo T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hữu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Đề nghị: Phạt bị cáo Phạm Hữu T từ 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước 01 xem mô tô hiệu Honda loại Wave, biển số 59Y3-691.13, số máy: JA39E218969, số khung RLHJA3926MY064669.
Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ông Bùi Trọng T2 không nhận lại số tiền 1.000.000đồng nên buộc bị cáo T nộp lại số tiền 1.000.000 đồng vào ngân sách nhà nước.
* Bị cáo Phạm Hữu T tự bào chữa: Không.
* Lời nói sau cùng của Bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo đã ăn năn hối hận.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Điều tra viên, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Tại phiên Tòa, bị cáo Phạm Hữu T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của Bị cáo là phù hợp biên bản phạm tội quả tang, lời khai người bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Theo đó, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 23 giờ 45 phút ngày 22/02/2024, tại nhà số H, đường T, khu phố C, thị trấn C, huyện C, bị cáo Phạm Hữu T đã có hành vi lén lút lấy trộm một cây hoa giấy của bà Đặng Phan Hạnh T1, theo định giá cây hoa giấy mà bị cáo T chiếm đoạn của bà T1 có trị giá là 2.400.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Phạm Hữu T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo đã trưởng thành, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì muốn có tiền thỏa mãn tư lợi cá nhân mà bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần xử lý Bị cáo bằng một hình phạt nghiêm khắc để giáo dục riêng đồng thời phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, cần xem xét đến nhân thân, những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để có mức hình phạt phù hợp.
[4] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, là người nghiện ma túy từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Thời điểm bị bắt, bị cáo đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số: 129/QĐ-TA ngày 10/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi. Ngày 25/10/2024, Cơ sở cai nghiệm ma túy P quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định số: 129/QĐ-TA ngày 10/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để thi hành lệnh bắt bị cáo để tạm giam của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi lượng hình đối với bị cáo.
[7] Xét vật chứng vụ án:
Đối với xem 01 mô tô hiệu Honda loại Wave, biển số 59Y3-691.13, số máy: JA39E218969, số khung RLHJA3926MY064669, đây là tài sản của bị cáo T, bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
[8] Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản trộm cắp, không yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[9] Đối với số tiền 1.000.000 đồng bị cáo T có được từ việc bán tài sản trộm cắp mà có cho ông Bùi Trọng T2, ông T2 từ chối nhận lại nên cần buộc bị cáo nộp lại để tịch thu sung quỹ nhà nước.
[10] Đối với ông Bùi Trọng T2 và ông Huỳnh Văn T3 không biết cây hoa giấy là do bị cáo T trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C không xử lý đối với ông T2 và ông T3 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền ợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hữu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt: Bị cáo Phạm Hữu T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính ngày 25/10/2024.
- Căn cứ theo Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 xe mô tô biển số 59Y3-691.13, số máy: JA39E218969, số khung RLHJA3926MY064669.
(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 250/LNK-ĐTTH ngày 04/02/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C)
Buộc bị cáo Phạm Hữu T nộp lại số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng vào ngân sách nhà nước.
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015 và Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
Buộc bị cáo Phạm Hữu T nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt có quyền kháng cáo. Riêng bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hồng Ngọc |
Bản án số 24/2025/HSST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 24/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Hữu T - Trộm cắp tài sản
