Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST

Ngày 22-01-2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Vũ Thị Minh Nguyệt

Ông Nguyễn Nam Tuấn

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 363/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị P, sinh năm 1991; nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố C, phường T, thành phố T (xã K, huyện T cũ), thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số D phố C, quận L, thành phố Đ, Đài Loan; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Lương Văn Đ, sinh năm 1993; nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố C, phường T, thành phố T (xã K cũ), thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số G ngõ A đường K, thành phố Đ, Đài Loan; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai, nguyên đơn là chị Vũ Thị P đã được hợp pháp hoá lãnh sự, trình bày:

Chị và anh Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T (nay là phường T, thành phố T), thành phố Hải Phòng vào ngày 22/3/2012. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Tháng 11/2017, chị P sang Đài Loan làm việc để phát triển kinh tế gia đình. Năm 2018, anh Đ cũng xuất cảnh sang Đài Loan làm việc nhưng do mỗi người ở một nơi, vợ chồng ít có cơ hội gặp gỡ, thiếu đi sự quan tâm, chia sẻ với nhau. Tháng 3/2022 chị P trở về Việt Nam sinh sống và chăm sóc con cái, do kinh tế gia đình khó khăn, chị quyết định quay trở lại Đài Loan làm việc vào tháng 3/2024 để tiếp tục công tác và hàn gắn tình cảm với anh Đ nhưng không đạt kết quả. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên động viên, hòa giải nhưng không thành, anh chị sống ly thân từ tháng 11/2017 đến nay. Nay mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị P đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lương Văn Đ.

Về con chung: Chị và anh Đ có 03 con chung tên là Lương Vũ T, sinh ngày 14/11/2012 và Lương Đức G, sinh ngày 07/11/2015, Lương Tuấn K, sinh ngày 20/7/2022. Ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao hai con Lương Vũ T, Lương Đức G cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Lương Tuấn K cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai đã được hợp pháp hoá lãnh sự quán, bị đơn anh Lương Văn Đ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị P kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T (nay là phường T, thành phố T), thành phố Hải Phòng vào ngày 22/3/2012 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 25/2012, quyển số 01/2012. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau. Anh và gia đình đã động viên, khuyên bảo, hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng anh chị nhưng không đạt kết quả. Hiện anh chị đều sang Đài Loan làm việc nhưng anh chị đã sống ly thân từ tháng 11/2017 đến nay. Nay chị P có đơn xin ly hôn với anh Đ, anh đồng ý ly hôn với chị P.

Về con chung: Anh và chị P có 03 con chung tên là Lương Vũ T, sinh ngày 14/11/2012, Lương Đức G, sinh ngày 07/11/2015, Lương Tuấn K, sinh ngày 20/7/2022. Ly hôn, anh đề nghị Tòa án giao hai con Lương Vũ T, Lương Đức G cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Lương Tuấn K cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, chị P và anh Đ đều vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt, Chủ tọa phiên tòa đã công bố lý do đương sự vắng mặt, công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan điểm giải quyết vụ án của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Vũ Thị P có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con chung nên quan hệ pháp luật trong vụ án là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Tại thời điểm thụ lý vụ án, nguyên đơn chị Vũ Thị P và bị đơn anh Lương Văn Đ đều đăng ký thường trú tại thành phố T, thành phố Hải Phòng, hiện đang sinh sống tại Đài Loan. Do vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, chị Vũ Thị P và anh Lương Văn Đ đều vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Lời khai của nguyên đơn, bị đơn và các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện chị Vũ Thị P và anh Lương Văn Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T (nay là phường T, thành phố T), thành phố Hải Phòng vào ngày 22/3/2012. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Vũ Thị P và anh Lương Văn Đ là hôn nhân hợp pháp theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000. Quá trình chung sống anh chị hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do điều kiện kinh tế gia đình, anh chị đều xuất cảnh sang Đài Loan làm việc nhưng mỗi người ở một nơi, vợ chồng không quan tâm, chia sẻ với nhau, sống ly thân từ tháng 11/2017 đến nay và đều đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu của chị Vũ Thị P được ly hôn với anh Lương Văn Đ.

[4] Về con chung: Chị P và anh Đ có 03 con chung là Lương Vũ T, sinh ngày 14/11/2012, Lương Đức G, sinh ngày 07/11/2015, Lương Tuấn K, sinh ngày

20/7/2022. Xét thấy, cháu Lương Tuấn K còn nhỏ, chưa đủ 03 tuổi nên cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ; hai cháu Lương Vũ T và Lương Đức G đều có nguyện vọng được ở với anh Lương Văn Đ. Quá trình giải quyết vụ án, chị P và anh Đ thống nhất thoả thuận giao hai con Lương Vũ T và Lương Đức G cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Lương Tuấn K cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật, đảm bảo được mọi quyền lợi của con chung nên cần được chấp nhận. Do đó, căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, xử cần chấp nhận đề nghị nuôi con của chọ P và anh Đ theo hướng: Giao 02 con tên Lương Vũ T, sinh ngày 14/11/2012 và Lương Đức G, sinh ngày 07/11/2015 cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng; giao con Lương Tuấn K, sinh ngày 20/7/2022 cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng. Chị P, anh Đ nuôi con cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Toà án tạm thời không giải quyết.

[5] Về tài sản chung: Chị P và anh Đ không yêu cầu giải quyết nên Toà án không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Chị P và anh Đ được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, điểm d khoản 1 Điều 469, khoản 2 Điều 478, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 9, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vũ Thị P:
    • - Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị P được ly hôn anh Lương Văn Đ.
    • - Về con chung: Giao 02 con tên Lương Vũ T, sinh ngày 14/11/2012 và Lương Đức G, sinh ngày 07/11/2015 cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng; giao con Lương Tuấn K, sinh ngày 20/7/2022 cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Đ, chị P nuôi con cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị P, anh Đ tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Toà án tạm thời không giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung: Chị Vũ Thị P và anh Lương Văn Đ không yêu cầu nên Toà án không xem xét, giải quyết.

  1. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Vũ Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000985 ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Vũ Thị P đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo:

    Nguyên đơn chị Vũ Thị P1 và bị đơn anh Lương Văn Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

  3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - UBND xã Kênh Giang, huyện Thủy Nguyên (nay là phường Trần Hưng Đạo, TP Thủy Nguyên), TP Hải Phòng (ĐKKH ngày 22/3/2012);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HCTP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HNGĐ-ST ngày 22/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 24/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn P-Đ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger