Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ AYUN PA

TỈNH GIA LAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2024/HS-ST

Ngày: 11 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUN PA, TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Toàn
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Hoàng Hùng và bà Phan Thị Nhàn.
  • Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Nay Ha, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST-HS ngày 26/11/2024 đối với bị cáo:

1. Lê Anh K (Tên gọi khác: T), sinh ngày 24/4/2003 tại Gia Lai; nơi cư trú: Tổ D, phường H, thị xã A, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Viết H và bà Nguyễn Thị Ánh N; vợ, con: Không; tiền án: Không, tiền sự: 02 tiền sự:

  • - Ngày 09/01/2024, bị Công an thị xã A xử phạt hành chính với số tiền 5.000.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích;
  • - Ngày 25/6/2024, bị Công an thị xã A xử phạt hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy (đều đã chấp hành xong nhưng chưa được xóa);

Về nhân thân: Ngày 20/11/2020, bị Công an thị xã A xử phạt hành chính số tiền 1.250.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác, (đã chấp hành xong). Bị cáo bị tạm giam từ ngày 16/8/2024 cho đến nay. Có mặt.

2. Phan Văn T1 (Tên gọi khác: Cu dồ), sinh năm 1989 tại Bình Định; trình độ học vấn: 01/12; nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai; nơi ở hiện nay: Tổ D, phường C, thị xã A, tỉnh Gia Lai; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn D và bà Phan Thị T2 (đã chết); bị cáo chung sống như vợ chồng với chị Ksor H1 và có 01 con chung, sinh năm 2022; tiền án: 03 tiền án:

  • - Ngày 08/12/2006, bị Tòa án nhân dân huyện Ia Pa, Gia Lai xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
  • - Ngày 07/4/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Ia Pa, Gia Lai xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và 12 tháng tù về tội Trốn khỏi nơi giam giữ, tổng hợp hình phạt chung là 30 tháng tù và cộng thêm 05 ngày trốn khỏi nơi giam giữ (Theo Bản án số 03/2008/HS-ST)
  • - Ngày 13/11/2008, bị Tòa án nhân dân thị xã Ayun Pa, Gia Lai xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt 30 tháng tù của Bản án số 03/2008/HSST ngày 07/4/2008 của Tòa án nhân dân huyện Ia Pa buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 60 tháng tù. (Theo Bản án số 22/2008/HSST)
  • - Ngày 07/9/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, Gia Lai xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy, tổng hợp hình phạt còn lại của Bản án số 22/2008/HSST ngày 13/11/2008 của Tòa án nhân dân thị xã Ayun Pa, buộc bị cáo chấp hành hình phạt 09 năm 05 tháng 25 ngày tù.

Tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 14/9/2024 cho đến nay. Có mặt.

· Bị hại:

  • + Ông Lê M, sinh năm 1960. Vắng mặt có lý do. Địa chỉ: Tổ D, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai.
  • + Chị Trần Thị Thanh H2, sinh năm 1994. Có mặt. Địa chỉ: G P, phường H, thị xã A, tỉnh Gia Lai.
  • + Chị Nguyễn Thị Mỹ D1, sinh năm 2001. Có mặt. Địa chỉ: Số B T, phường H, thị xã A, tỉnh Gia Lai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Vũ Huyền L, sinh năm 1995. Vắng mặt có lý do. Địa chỉ: D T, phường C, thị xã A, tỉnh Gia Lai.
  • + Bà Nguyễn Thị Ánh N, sinh năm 1975. Có mặt. Địa chỉ: Tổ D, phường H, thị xã A, tỉnh Gia Lai.

- Người làm chứng:

  • + Anh Trần Minh Q, sinh năm 1999. Vắng mặt có lý do. Địa chỉ: Số A N, phường Đ, thị xã A, tỉnh Gia Lai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 30/7/2024, Lê Anh K biết gia đình ông Lê Viết H3 (Sinh năm: 1972, là chú của K) tổ chức tiệc nhậu tại nhà ở tổ A, phường Đ, thị xã A, Gia Lai, có nhiều vị khách đến chơi và ở lại nên K nảy sinh ý định tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Thực hiện ý định trên, K một mình điều khiển xe môtô mang biển kiểm soát (BKS): 81AL-004.95 đi đến nhà ông H3 rồi đứng núp tại khu vực hàng rào gần nhà vệ sinh để chờ mọi người đi ngủ. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, khi quan sát thấy mọi người trong nhà ông H3 đã đi ngủ, K trèo qua hàng rào rồi đi lên lầu trên nhà sàn thì thấy ông Lê M (Sinh năm: 1960, trú tại tổ dân phố D, thị trấn C, huyện C, Gia Lai) đang nằm ngủ và tại vị trí gần gối ngủ có 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng. K đã lén lút lấy trộm điện thoại nêu trên rồi bỏ đi. Đến sáng ngày 31/7/2024, K điều khiển xe môtô đến nhà Phan Văn T1 tại tổ D, phường C, thị xã A kể mình trộm được điện thoại rồi rủ T1 mang đi bán lấy tiền tiêu xài, T1 đồng ý. Sau đó cả hai mang chiếc điện thoại trên đến tiệm điện thoại C của anh Vũ Huyền L (Sinh năm: 1995) tại D T, phường C, thị xã A, Gia Lai bán với giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng), K nhận tiền chia T1 500.000 đồng rồi cả hai cùng đi về.

Ngoài ra qua điều tra xác định Lê Anh K còn thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản khác, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 03giờ50' sáng ngày 04/8/2024, K một mình điều khiển xe môtô BKS: 81AL-004.95 đi trên đường P thuộc phường H, thị xã A, Gia Lai để tìm kiếm tài sản nhằm trộm cắp. Khi đi qua nhà của chị Trần Thị Thanh H2 (SN: 1994) tại G P, phường H, thị xã A, K quan sát xung quanh không có người, liền đi đến bên hông nhà rồi trèo qua hàng rào vào trong sân, K đi đến trước cửa nhà phát hiện cửa không khóa nên đi vào trong nhà, tại đây K thấy 01 (một) chiếc Laptop (máy tính xách tay) nhãn hiệu DELL màu đen để trong tủ gỗ phòng khách, K liền lấy trộm rồi đi ra ngoài. Đến khoảng 06giờ00 cùng ngày K mang theo laptop nêu trên đi đến nhà Phan Văn T1 kể mình trộm được laptop rồi rủ T1 mang đi bán lấy tiền tiêu xài, T1 đồng ý. Sau đó cả hai đi đến tiệm điện thoại của anh Trần Minh Q (Sinh năm: 1999) tại số A N, phường Đ, thị xã A, tại đây Khoa không cung cấp được mật khẩu đăng nhập laptop nên không bán được, sau đó K đưa laptop trên cho T1 giữ chờ bán sau.

Vụ thứ hai: Khoảng 23 giờ ngày 14/8/2024, K một mình điều khiển xe môtô BKS: 81AL-004.95 đi trên đường T, phường H, thị xã A để tìm kiếm tài sản trộm cắp. Khi đi qua nhà của chị Nguyễn Thị Mỹ D1 (Sinh năm: 2001) ở B T, phường H, thị xã A, quan sát thấy không có ai, K liền trèo qua cổng vào trong sân, tại đây K phát hiện cửa nhà không khóa nên mở cửa đi vào trong, vào phòng khách K lục lọi trong tủ gỗ thấy 01 (một) điện thoại Iphone XS màu vàng, K lấy bỏ vào túi quần. Tiếp đó K phát hiện dưới gầm giường gỗ có 01 (một) cái túi để lòi một cái ví, K lấy chiếc ví rồi đi ra ngoài sân, mở kiểm tra thấy nhiều tờ tiền, K lấy hết tiền và vứt ví lại trong sân, sau đó K trèo qua cổng rồi đi ra ngoài. Sau khi lấy trộm được những tài sản trên, K tiếp tục đi đến nhà T1 kể mới đi trộm cắp tài sản, số tiền trộm cắp được là 6.095.000 đồng (Sáu triệu không trăm chín mươi lăm ngàn đồng), K cho T1 số tiền 3.000.000 đồng, còn điện thoại Iphone XS màu vàng thì K đưa T1 giữ để sau này bán sau, T1 đồng ý. Số tiền trộm cắp được K đã tiêu xài cá nhân còn lại 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), còn T1 sau khi tiêu xài cá nhân còn lại 2.250.000 đồng (Hai triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng).

- Tại bản Kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 20/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã A kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 11, màu trắng, có trị giá 5.650.000 đồng (Năm triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng).

- Tại bản Kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐGTS ngày 29/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã A kết luận: 01 (một) điện thoại Iphone XS màu vàng, có trị giá 4.600.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm nghìn đồng).

- Tại bản Kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTS ngày 30/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã A kết luận: 01 (một) Laptop nhãn hiệu Dell Inspiron 14, có trị giá 2.400.000 đồng (Hai triệu, bốn trăm nghìn đồng).

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng có ốp lưng màu vàng, trên khay sim có dãy số 356555102343681, điện thoại không gắn sim, điện thoại đã qua sử dụng. Qúa trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Lê M.
  • - 01 (một) Laptop nhãn hiệu DELL Inspiron 14 màu đen, SERVICE TAG(S/N): BV1WYD2, MFGYR: 2016, EXPRESS SERVICE CODE: 25822274294, bàn phím laptop bị mất một nút ký hiệu chữ “H”, laptop đã qua sử dụng. Qúa trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Trần Thị Thanh H2.
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng, số máy: MTAY2J/A, số Sê-ri: DNPX92SRKPGF, dung lượng 64GB, IMEI: 357230099775282, IMEI2: 357230099178586, điện thoại không có khay sim, màn hình điện thoại bị bung ra khỏi vị trí cố định, mặt lưng điện thoại bị bể trong diện (17x1,5)cm, điện thoại đã qua sử dụng. Qúa trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Mỹ D1.
  • - 01 (một) USB nhãn hiệu Kingston DTSE9 2GB màu bạc có lưu dữ liệu ghi hình việc Lê Anh K và Phan Văn T1 vào tiệm điện thoại để bán điện thoại mà K trộm cắp được, được đưa vào hồ sơ vụ án.
  • - 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Espero, màu vàng xám mang biển kiểm soát: 81AL - 004.95, số khung: B3PEJA348658, số máy: 39FMB2348658, xe đã qua sử dụng. Qúa trình điều tra xác định xe môtô trên do bà Nguyễn Thị Ánh N (Sinh năm: 1975, trú tại: Tổ D, phường H, thị xã A, Gia Lai, là mẹ ruột của Lê Anh K) là chủ sở hữu hợp pháp.
  • - Tiền Việt Nam đồng: 2.000.000 đồng, gồm 04 (bốn) tờ tiền polime mệnh giá 500.000 đồng (là số tiền Lê Anh K trộm cắp có được còn lại).
  • - Tiền Việt Nam đồng: 2.250.000 đồng, gồm 01 (một) tờ tiền polime mệnh giá 500.000 đồng, 05 (năm) tờ tiền polime mệnh giá 200.000 đồng, 05 (năm) tờ tiền polime mệnh giá 100.000 đồng và 05 (năm) tờ tiền polime mệnh giá 50.000 đồng, (là số tiền Lê Anh K trộm cắp cho Phan Văn T1 còn lại).

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Nguyễn Thị Mỹ D1 yêu cầu bị can Lê Anh K trả lại đủ số tiền đã trộm cắp được của chị D1; các bị hại ông Lê M và chị Trần Thị Thanh H2 sau khi được nhận lại các tài sản không yêu cầu gì khác. Người liên quan anh Vũ Huyền L yêu cầu bị can K phải trả lại số tiền 1.000.000 đồng mà anh L đã bỏ ra để mua điện thoại Iphone 11 màu trắng mà K mang đến bán.

Trong quá trình điều tra, truy tố bị can Lê Anh K, Phan Văn T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị can phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKS ngày 11 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Lê Anh K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và bị cáo Phan Văn T1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo điểm đ khoản 2 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Anh K phạm tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo Phan Văn T1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, đề nghị HĐXX:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Lê Anh K từ 01 năm đến 01 năm sáu tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bắt tạm giam từ ngày 16/8/2024.
  • - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Văn T1 từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bắt tạm giam từ ngày 14/9/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 BLHS, buộc các bị cáo Lê Anh K và Phan Văn T1 trả lại cho chị Nguyễn Thị Mỹ D1 toàn bộ số tiền các bị cáo đã tiêu xài hết cho đủ số tiền bị cáo K đã trộm cắp, gồm bị cáo K 1.095.000 đồng, bị cáo T1 750.000 đồng.

Về xử lý vật chứng vụ án:

Đề nghị HĐXX áp dụng các khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật TTHS, tuyên trả lại cho bà Nguyễn Thị Ánh N 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Espero, màu vàng xám mang biển kiểm soát: 81AL - 004.95, số khung: B3PEJA348658, số máy: 39FMB2348658.

Trả lại cho chị Nguyễn Thị Mỹ Duyên S tiền các bị cáo đã nộp lại 4.250.000 đồng.

Bị cáo, bị hại và những người liên quan không có ý kiến tranh luận gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi của bị cáo Lê Anh K và Phan Văn T1: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, những người liên quan và người làm chứng; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Lê Anh K và Phan Văn T1 là người quen biết của nhau. Trong các ngày 31/7, 04/8 và 14/8/2024, Lê Anh K đã một mình lén lút thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn phường Đ và phường H, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Tài sản chiếm đoạt được là 02 chiếc điện thoại Iphone, 01 chiếc máy tính xách tay và một khoản tiền mặt là 6.095.000 đồng. Trị giá các tài sản trộm cắp được và tiền mặt là 18.745.000 đồng. Sau cả 03 vụ trộm cắp, bị cáo K đều rủ bị cáo T1 tìm cách bán các tài sản trộm cắp được và cho bị cáo T1 một số tiền để tiêu xài. Bị cáo T1 không có hứa hẹn gì trước với bị cáo K, nhưng biết rõ các tài sản này do bị cáo K phạm tội mà có nhưng vì mục đích vụ lợi nên vẫn đồng ý nhận tài sản để tiêu thụ và nhận số tiền bị cáo K cho để tiêu xài. Như vậy, hành vi của bị cáo K đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, hành vi của bị cáo T1 đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa đã truy tố các bị cáo về các tội phạm theo tội danh và điều luật nói trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy rằng:

Bị cáo Lê Anh K có nhân thân xấu. Từ năm 2020, bị cáo đã từng bị xử phạt hành chính (phạt tiền) về hành vi xâm hại sức khỏe người khác nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng. Đến năm 2024, bị cáo tiếp tục vi phạm hành chính 02 lần và bị xử phạt hành chính (đều là phạt tiền) về các hành vi cố ý gây thương tích và sử dụng trái phép chất ma túy. Các hành vi vi phạm hành chính thực hiện trong năm 2024 chưa được xóa thì bị cáo lại tiếp thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản trong vụ án này. Cả ba vụ trộm cắp tài sản bị cáo thực hiện trong vụ án này đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS là "Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, biết ăn năn và đã nộp lại các tài sản trộm cắp và số tiền chưa tiêu xài hết. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS, cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Bị cáo Phan Văn T1 có nhân thân rất xấu. Từ năm 2006 đến năm 2011 bị cáo đã 04 lần bị các Tòa án xét xử về nhiều tội phạm khác nhau, trong đó có 03 bản án đã xác định bị cáo phạm tội thuộc các trường hợp tái phạm và tái phạm nguy hiểm. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù của các bản án trước vào ngày 13/4/2019, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội trong vụ án này. Điều đó cho thấy bị cáo không có ý thức tu dưỡng, rèn luyện để trở thành người có ích cho xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Các lần phạm tội đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và đã nộp lại tài sản trộm cắp và số tiền chưa tiêu xài hết. Vì vậy, bị cáo cũng được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS, cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

[3] Xét tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của 02 bị cáo, HĐXX xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát về việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung là phù hợp nên cần xem xét chấp nhận xử phạt tù và cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm cắp là điện thoại di động và máy tính xách tay. Riêng bị hại Nguyễn Thị Mỹ D1 còn yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền mặt 6.095.000 đồng. Kết quả điều tra đã xác định được bị cáo K đã cho bị cáo T1 số tiền 3.000.000 đồng trong số tiền trộm cắp này, bị cáo T1 đã tiêu xài hết 750.000 đồng, còn lại 2.250.000 đồng đã nộp lại sau khi vụ án bị phát hiện. Bị cáo K đã tiêu xài hết 1.095.000 đồng, còn lại 2.000.000 đồng cũng đã nộp lại sau khi vụ án bị phát hiện. Toàn bộ số tiền đang tạm giữ cần trả lại cho bị hại Nguyễn Thị Mỹ D1 và buộc các bị cáo trả lại phần còn thiếu, trong đó bị cáo K phải trả lại 1.095.000 đồng, bị cáo T1 phải trả lại 750.000 đồng.

Đối với thiệt hại của anh Vũ Huyền L là 1.000.000 đồng do mua nhầm chiếc điện thoại do bị cáo K trộm cắp và cùng bị cáo T1 đem đi bán. Chiếc điện thoại đã bị thu hồi trả cho chủ sở hữu hợp pháp. Anh L đã được giải thích về quyền yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền nói trên nhưng anh L đã từ chối nhận và không yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền này nên không buộc các bị cáo trả lại.

[5] Về vật chứng vụ án:

  • - Vật chứng là các điện thoại di động và máy tính xách tay đã được CQĐT trả lại cho các bị hại đúng quy định, HĐXX không xem xét.
  • - Vật chứng là 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Espero, màu vàng xám mang biển kiểm soát: 81AL - 004.95, số khung: B3PEJA348658, số máy: 39FMB2348658 là chiếc xe thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị Ánh N, là mẹ ruột của Lê Anh K. Bà N không có lỗi trong việc giao chiếc xe này cho bị cáo K sử dụng làm phương tiện di chuyển để trộm cắp tài sản nên căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật TTHS cần trả lại cho bà N.
  • - Vật chứng là số tiền các bị cáo đã nộp lại 4.250.000 đồng là số tiền các bị cáo chưa tiêu xài hết trong số tiền trộm cắp được của chị Nguyễn Thị Mỹ D1 nên căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật TTHS cần trả lại cho chị D1.
  • - Vât 01 (một) USB nhãn hiệu Kingston DTSE9 2GB màu bạc có lưu dữ liệu ghi hình việc Lê Anh K và Phan Văn T1 vào tiệm điện thoại để bán điện thoại mà K trộm cắp được là chứng cứ cần lưu trữ tại hồ sơ vụ án.

[6] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên: Cơ quan điều tra Công an thị xã A, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, tuân thủ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và người liên quan không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí DSST trong vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Anh K phạm tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Phan Văn T1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Anh K;
  • - Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 323; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phan Văn T1.

Tuyên xử:

Phạt bị cáo Lê Anh K 01 năm 06 sáu tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 16/8/2024.

Phạt bị cáo Phan Văn T1 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 14/9/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Buộc bị cáo Lê Anh K phải trả lại cho chị Nguyễn Thị Mỹ D1 1.095.000 đồng (Một triệu không trăm chín mươi lăm ngàn đồng) bị cáo Phan Văn T1 phải trả lại cho chị Nguyễn Thị Mỹ D1 750.000 đồng (B trăm năm mươi ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Trả lại 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Espero, màu vàng xám mang biển kiểm soát: 81AL - 004.95, số khung: B3PEJA348658, số máy: 39FMB2348658 cho bà Nguyễn Thị Ánh N.
  • - Trả lại cho chị Nguyễn Thị Mỹ Duyên S tiền các bị cáo đã nộp lại là 4.250.000 đồng (Bốn triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng).

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 19/11/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an thị xã A và Cơ quan Thi hành án dân sự thị xã AyunPa)

4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Các bị cáo Lê Anh K và Phan Văn T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST và 300.000 đồng án phí DSST trong vụ án hình sự để sung quỹ Nhà nước.

5. Quyền kháng cáo:

Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 11/12/2024 đối với những người có mặt tại phiên tòa; thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày trích lục bản án được tống đạt hợp lệ đối với người vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo toàn bộ bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo đối với phần bản án liên quan đến bản thân mình.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Ayun Pa;
  • - CQ. CSĐT Công an TX. Ayun Pa;
  • - CQ.THA HS Công an TX. Ayun Pa;
  • - Chi cục THA DS TX. Ayun Pa;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu HSVA, Lưu trữ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUN PA, TỈNH GIA LAI về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 24/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUN PA, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào tối ngày 30/7/2024, Lê Anh K biết gia đình ông Lê Viết H3 (Sinh năm: 1972, là chú của K) tổ chức tiệc nhậu tại nhà ở tổ A, phường Đ, thị xã A, Gia Lai, có nhiều vị khách đến chơi và ở lại nên K nảy sinh ý định tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Thực hiện ý định trên, K một mình điều khiển xe môtô mang biển kiểm soát (BKS): 81AL-004.95 đi đến nhà ông H3 rồi đứng núp tại khu vực hàng rào gần nhà vệ sinh để chờ mọi người đi ngủ. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, khi quan sát thấy mọi người trong nhà ông H3 đã đi ngủ, K trèo qua hàng rào rồi đi lên lầu trên nhà sàn thì thấy ông Lê M (Sinh năm: 1960, trú tại tổ dân phố D, thị trấn C, huyện C, Gia Lai) đang nằm ngủ và tại vị trí gần gối ngủ có 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng. K đã lén lút lấy trộm điện thoại nêu trên rồi bỏ đi.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger