TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 24/2024/HS-ST Ngày 27 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Trang.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Cầm Thị Đoa và bà Hoàng Thị Hội.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Lệ Giang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hải, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 27/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Hà Văn H, sinh ngày 24/12/1987 tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi đăng kí hộ khẩu thường trú: Bản Muống, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La; nơi tạm trú: Bản Áng, xã Đ, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn Q – sinh năm 1950 và bà Hà Thị X - sinh năm 1954; bị cáo có vợ là Hoàng Kim O – sinh năm 1986, có 03 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/9/2024 đến nay; có mặt.
- Hoàng Văn T, sinh ngày 10/10/1993 tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn N và bà Hoàng Thị C (đều đã chết); bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Tại Bản án số 79/2021/HSST ngày 28/6/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong án phạt tù ngày 20/01/2023; tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/9/2024 đến nay; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hà Văn H và Hoàng Văn T đều là đối tượng nghiện chất ma túy và có quen biết nhau từ trước vì đi làm thợ xây cùng nhau. Khoảng 15 giờ ngày 01/9/2024, Hà Văn H đi xe khách đến thị trấn M chơi, sau khi xuống xe H đi bộ đến khu vực suối quanh thuộc tiểu khu F, thị trấn M, huyện M thì gặp một người phụ nữ không quen biết. Qua trao đổi, H hỏi mua ma túy và được biết giá một viên ma túy hồng phiến là 80.000 đồng. Vì muốn mua nhiều ma túy sử dụng nên H đã đi bộ đến khu vực phòng trọ thuộc tiểu khu B, thị trấn M mà trước đây H đã ở để đi làm thợ xây mục đích gặp người quen để hỏi vay thêm tiền, khi đi đến nơi H gặp Hoàng Văn T, qua nói chuyện do hai người cùng nghiện ma tuý nên H rủ T mỗi người góp 250.000 đồng để đi mua ma túy mang về cùng nhau sử dụng, T đồng ý và đưa cho H một tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, H trả lại cho T 250.000 đồng. Sau đó, H một mình đi bộ đến khu vực suối quanh thuộc tiểu khu F, thị trấn M gặp người phụ nữ đã trao đổi mua bán ma tuý từ trước, H đã mua được của người phụ nữ đó 04 viên hồng phiến được gói bằng mảnh nilon màu trắng với giá 320.000 đồng và một gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu trắng với giá 180.000 đồng, cả hai gói nilon được gói bằng mảnh giấy bạc. Sau khi mua được ma túy, H cất giấu trong túi quần đi về phòng trọ của T, trên đường đi về thì bị tổ công tác Công an thị trấn M, huyện M kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ của Hà Văn H: 01 gói giấy bạc bên trong có 02 gói nilon màu trắng, trong đó có 01 gói chứa cục chất bột màu trắng nghi là H1 và 01 gói chứa 04 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có chữ WY, nghi là Methamphetamine.
Ngày 01/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ra lệnh giữ và bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Hoàng Văn T, quá trình bắt giữ không thu giữ gì.
Ngày 01/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã tiến hành mở niêm phong, kiểm đếm và xác định số lượng, khối lượng vật chứng nghi là ma tuý thu giữ của Hà Văn H như sau: Chất cục bột màu trắng có khối lượng 0,09 gam, lấy toàn bộ làm mẫu giám định, mẫu có ký hiệu H1; Số lượng 04 viên nén màu hồng có khối lượng 0,39 gam, lấy toàn bộ làm mẫu giám định, mẫu có ký hiệu H2.
Tại Kết luận giám định số 1792/KL-KTHS ngày 05/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận:
- Mẫu ký hiệu H1 gửi giám định là ma tuý, loại Heroine, có tên khoa học là D, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,09 gam;
- Mẫu ký hiệu H2 gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,39 gam;
- Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,09 gam, loại Heroine, có tên khoa học là D và 0,39 gam, loại Methamphetamine.
Cáo trạng số 185/CT-VKS ngày 21/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố các bị can Hà Văn H và Hoàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa: Các bị cáo Hà Văn H, Hoàng Văn T trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Các bị cáo nhận tội như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.
* Tranh luận tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Hà Văn H, Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:
- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Văn H từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì bên trong đựng 01 mảnh giấy bạc, 02 mảnh nilon màu trắng và phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy đối với Hà Văn H; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy đối với Hoàng Văn T.
- Về án phí: Buộc bị cáo Hà Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Hoàng Văn T.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu phát biểu luận tội, các bị cáo Hà Văn H và Hoàng Văn T nhất trí với toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa các bị cáo Hà Văn H, Hoàng Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra. Lời khai của các bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, các bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.
Xét lời khai của các bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an thị trấn M, huyện M lập vào hồi 17 giờ 00 phút ngày 01/9/2024; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo Hà Văn H, Hoàng Văn T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 01/9/2024 Hà Văn H và Hoàng Văn T đã cùng góp số tiền 500.000 đồng để Hà Văn H đi mua 0,39 gam Methamphetamine và 0,09 gam Heroine, nhằm mục đích mang về cùng nhau sử dụng, trên đường H mang ma túy về thì bị phát hiện, thu giữ.
Căn cứ Điều 4 Chương II Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý tại một số điều của Bộ luật hình sự thì tổng khối lượng của các chất ma tuý Methamphetamine và Heroine thu giữ của Hà Văn H là 0,39 gam + 0,09 gam = 0,48 gam. Do đó, hành vi của các bị cáo Hà Văn H, Hoàng Văn T đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Vì vậy, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Phân hoá vai trò phạm tội trong vụ án: Bị cáo Hà Văn H là người khởi xướng, trực tiếp đi mua, cất giấu ma túy; bị cáo Hoàng Văn T là người cùng góp tiền để mua ma túy. Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm theo quy định tại Điều 17 Bộ luật Hình sự, do đó khi quyết định hình phạt cần căn cứ Điều 58 Bộ luật hình sự xem xét tính chất của từng đồng phạm, tính chất mức độ tham gia phạm tội của từng bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- Đối với bị cáo Hoàng Văn T: Bị cáo có 01 tiền án, tại Bản án 79/2021/HSST ngày 28/6/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Do đó, bị cáo bị áp dụng một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Đối với bị cáo Hà Văn H: Không có.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Đối với bị cáo Hà Văn H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực hợp tác với cơ quan điều tra nhanh chóng làm rõ nội dung vụ án và hành vi của đồng phạm; bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng Huân chương chiến công Hạng Nhất. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo H.
- Đối với bị cáo Hoàng Văn T đã thành khẩn khai báo nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
[6] Về nhân thân của bị cáo: Các bị cáo đều là đối tượng nghiện chất ma túy. Bị cáo Hoàng Văn T có nhân thân xấu, có một tiền án đã được xóa án tích về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục tái nghiện ma tuý dẫn đến có hành vi phạm tội.
Từ những đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù giam, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[7] Về hình phạt bổ sung:
Ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, nhưng xét thấy các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[8] Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với 01 phong bì bên trong đựng 01 mảnh giấy bạc, 02 mảnh nilon màu trắng và phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy đối với Hà Văn H; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy đối với Hoàng Văn T. Xét thấy đây là những vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[9] Về án phí:
- Đối với bị cáo Hoàng Văn T là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa có yêu cầu xin miễn án phí hình sự sơ thẩm nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
- Đối với bị cáo Hà Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
[10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[11] Về các vấn đề khác:
Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho Hà Văn H, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.
Về thời hạn tạm giam còn lại của các bị cáo còn dưới 45 ngày, do đó Hội đồng xét xử quyết định tạm giam các bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Hà Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Hà Văn H 27 (Hai mươi bảy) tháng tù.
Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 01/9/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 33 (Ba mươi ba) tháng tù.
Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 01/9/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì bên trong đựng 01 mảnh giấy bạc, 02 mảnh nilon màu trắng và phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy đối với Hà Văn H; 01 phong bì bên trong đựng test thử ma túy đối với Hoàng Văn T.
(Hiện trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 19/BBVC-CCTHA lập ngày 28/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộc Châu).
- Về án phí:
- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Hoàng Văn T.
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Hà Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).
- Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27 tháng 11 năm 2024).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA (Đã ký) Đỗ Thị Thu Trang |
Bản án số 24/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 24/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 01/9/2024 Hà Văn H và Hoàng Văn T đã cùng góp số tiền 500.000 đồng để Hà Văn H đi mua 0,39 gam Methamphetamine và 0,09 gam Heroine, nhằm mục đích mang về cùng nhau sử dụng, trên đường Hà Văn H mang ma túy về thì bị phát hiện, thu giữ.
