|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG TỈNH QUẢNG TRỊ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 24/2024/HS-ST
Ngày 27/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Khánh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Văn Viết Tuấn và bà Phạm Thị Tuyết
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Chấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Minh - Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2024/TLST-HS ngày 15/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXXST-QĐ ngày 12/11/2024, đối với các bị cáo:
- Phan Bá L, sinh ngày 06 tháng 8 năm 2000 tại Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Phan Bá L1, sinh năm 1975 và bà Trịnh Thị H, sinh năm 1977; vợ tên Võ Thị N, sinh năm 2001; bị cáo có 01 con, sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không có.
Nhân thân: Ngày 22/12/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo theo về tội “Cướp giật tài sản”, tại Bản án số 56/2017/HSST.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/02/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Trần L2 (tên gọi khác: B), sinh ngày 05 tháng 4 năm 1993 tại Quảng Trị; nơi cư trú: Khu phố B, phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Thợ cắt tóc; trình độ học vấn: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Trần P, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1968; vợ tên Nguyễn Thị Mỹ L3, sinh năm 1995; bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không có.
Nhân thân: Ngày 28/5/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xử phạt 07 tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo Bản án số 63/2024/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/9/2024.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 26/9/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Kim L4; địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
Người làm chứng:
- Anh Hoàng Văn L5, sinh ngày 13/5/1990; nơi cư trú: Khu phố A, phường A, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
- Anh Đào Quốc T1, sinh năm 2005; nơi cư trú: Thôn T, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
- Anh Nguyễn Trần Công Đ, sinh ngày 28/10/2006; nơi cư trú: Thôn T, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
- Chị Lê Thị P1, sinh ngày 07/11/1999; nơi cư trú: Khu phố G, phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
- Anh Hoàng Minh V, sinh ngày 15/02/1986; nơi cư trú: Tổ D, phường Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai, vắng mặt.
- Anh Nguyễn Tấn Hoàng P2, sinh ngày 28/10/1988; nơi cư trú: Khu phố D, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị.
- Anh Phạm Văn T2, sinh ngày 14/12/1991; nơi cư trú: Khu phố A, phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Anh Nguyễn Bình D, sinh ngày 23/02/1991; nơi cư trú: Khu phố C, phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Anh Mai Xuân C, sinh ngày 26/6/1987; nơi cư trú: Thôn E, L, H, Thanh Hóa, vắng mặt.
- Anh Lê Văn L6, sinh ngày 21/12/1992; nơi cư trú: Khóm T, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Anh Đỗ Cao T3, sinh ngày 05/02/2001; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn P3, sinh ngày 03/11/1983; nơi cư trú: Xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, vắng mặt.
- Chị Lê Thị Hoài T4, sinh ngày 08/9/2002; nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam, có mặt.
- Anh Nguyễn Tiến Đ1, sinh ngày 24/02/1997; nơi cư trú: Khu phố D, phường D, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị Kim O, sinh ngày 17/6/2003; nơi cư trú: Khu phố A, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Chị Phạm Thị N1, sinh ngày 18/10/1994; nơi cư trú: Tổ C, V, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, vắng mặt.
- Anh Hoàng Đình Bảo T5, sinh ngày 10/02/2002; nơi cư trú: Thôn T, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ, ngày 19/02/2024, sau khi ăn uống tại thành phố Đ thì Phan Bá L cùng với Nguyễn Bình D, Nguyễn Tấn Hoàng P2, Hoàng Minh V, Mai Xuân C, Phạm Văn T2, Nguyễn Văn P3, Lê Văn L6, Đỗ Cao T3, Nguyễn Tiến Đ1, Trần L2 và Lê Thị P1 đến quán H2, thuộc thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị để hát karaoke. Khi cả nhóm đến quán H2 thì được Đào Quốc T1 là nhân viên của quán dẫn vào phòng 8888, sau đó, Phan Bá L yêu cầu Nguyễn Trần Công Đ là nhân viên của quán gọi thêm 03 nhân viên nữ là Nguyễn Thị Kim O, Lê Thị Hoài T4 và Phạm Thị N1 đến phục vụ khách tại phòng 8888. Khoảng 30 phút sau, Phan Bá L ra quầy gặp Đào Quốc T1 hỏi mua 06 viên ma túy MDMA và “một hộp năm” ma túy Ketamine cho những người trong phòng 8888 sử dụng (L trình bày L gặp Đào Quốc T1 để hỏi mua ma túy, nhưng T1 không thừa nhận). Sau khi nhận thông tin đặt mua ma túy từ Lãm, T1 đến gặp Hoàng Văn L5 bảo L5 chuẩn bị số lượng và loại ma túy như L đã đặt mua (T1 không thừa nhận hành vi này), L5 vào phòng 2222 lấy ma túy MDMA và Ketamine đúng như số lượng L đặt mua rồi để tất cả vào một vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu WHITE HORSE và đưa cho T1, T1 mang vỏ bao thuốc lá chứa số ma túy trên vào phòng 8888 để trên bàn rồi quay ra. Sau khi nhận ma túy, L bẻ các viên ma tuý MDMA thành nhiều mẫu nhỏ rồi đưa cho nhiều người sử dụng bằng cách dùng nước lọc hoặc nước ngọt để uống. Sau đó, L đổ ma túy Ketamine từ trong túi nilon ra đĩa sứ màu trắng có sẵn tại quán và dùng thẻ ATM của Hoàng Đình Bảo T5 là nhân viên của quán do L mượn trước đó để chế biến ma túy bằng cách nghiền mịn và chia ma túy thành nhiều đường nhỏ khoảng bằng que tăm xỉa răng để sử dụng. Sau khi chế biến ma túy xong, L tự bưng đĩa chứa ma túy Ketamine để sử dụng trước bằng cách đặt một đầu ống nhựa vào mũi, một đầu ống đặt vào đường ma túy đã kẻ trên đĩa rồi hít mạnh cho ma túy vào cơ thể qua đường mũi. Sử dụng xong một đường ma túy trên đĩa sứ, L bưng đĩa chứa ma túy cho nhiều người trong phòng 8888 sử dụng, từng người sử dụng xong thì để đĩa ma túy xuống bàn.
Đối với Trần L2, sau khi sử dụng ma túy thì Trần L2 tự bưng đĩa sứ có chứa ma tuý cho Lê Thị P1 sử dụng, P1 lấy đĩa sứ và dùng ống hít một đường ma tuý Ketamine vào cơ thể, cách sử dụng giống như cách L đã sử dụng. P1 sử dụng xong một đường ma túy thì L2 để lại đĩa sứ xuống mặt bàn để người khác sử dụng.
Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, khi các đối tượng đang sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an tỉnh và Công an huyện H phát hiện và lập biên bản vi phạm.
Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện H đã tổ chức xét nghiệm nhanh chất ma túy đối với 14 người có mặt trong phòng 8888, gồm:
- T và Phạm Thị N1: dương tính với chất ma tuý Methamphetamine, Ketamine, MDMA.
- Nguyễn Bình D, Lê Văn L6, Hoàng Minh V, Nguyễn Tấn Hoàng P2, Nguyễn Văn P3, Đỗ Cao T3, Nguyễn Tiến Đ1, Phạm Văn T2, Nguyễn Thị Kim O, Lê Thị P1 và Lê Thị Hoài T4: dương tính với chất ma tuý Ketamine.
Riêng đối với Phan Bá L: Cơ quan cảnh sát điều tra đã trưng cầu Phân Viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng giám định chất ma túy trong cơ thể người (qua nước tiểu), kết quả: trong nước tiểu của Phan Bá L có chất ma túy Methamphetamine, MDMA và Ketamine.
Tại bản Kết luận giám định số 314/KL-KTHS ngày 27/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận:
“5.1 Trên bề mặt đĩa sứ hình tròn màu trắng đường kính 31cm; thẻ ATM màu xanh, trắng, trên thẻ ghi V1 HOANG DINH BAO TRUNG; ống hút nhựa, trụ tròn, màu xanh, đường kính 0,4cm, dài 11cm có chất ma tuý loại Ketamine.
5.2 Chất rắn dạng tinh thể màu trắng (được đựng trong 01 (một) túi nilon trong suốt, kích thước (4x4)cm là ma tuý, loại Ketamine. Khối lượng mẫu là 1,8693g (Một phẩy tám sáu chín ba gam).
5.3 Bên trong 03 (ba) túi nilon kích thước (4x4)cm có chất ma tuý, loại Ketamine. Không xác định được khối lượng chất ma tuý trong 03 túi nilon này.
5.4 Chất rắn dạng tinh thể màu trắng (được đựng trong 01 (một) túi nilon trong suốt), là ma tuý, loại Ketamine. Khối lượng mẫu là 0,3899g (Không phẩy ba tám chin chín gam). Ketamine là chất ma tuý nằm trong danh mục III, STT: 40 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất”.
Tại bản Kết luận giám định số 311/KL-KTHS ngày 26/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận:
“01 dấu vết đường vân phát hiện trên bề mặt đĩa sứ hình tròn, màu trắng, đường kính 31cm gửi đến giám định với đường vân in ở ô Trỏ phải trên danh chỉ bản ghi tên Phan Bá L (sinh năm: 2000, nơi cư trú: thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị) là đường vân của cùng một người in ra”.
Tại bản Kết luận giám định số 397/KL-KTHS ngày 29/02/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận:
“Trong mẫu chất lỏng màu vàng (mẫu nước tiểu) ghi thu của Phan Bá L gửi giám định có tìm thấy chất ma túy Methamphetamine, MDMA và Ketamine”.
Bản Cáo trạng số 23/CT-VKS-HL ngày 15/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng truy tố các bị cáo Phan Bá L và Trần L2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Trong đó, truy tố Phan Bá L theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố Trần Lượng theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận đã thực hiện hành vi như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Phan Bá L từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù kể từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 21/02/2024.
- Áp dụng khoản 1 Điều 255; Điều 17; 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Trần L2 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Thời hạn tù kể từ ngày bắt tạm giam 26/9/2024.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu và tiêu hủy: 2,1961g ma túy Ketamine và số bao gói hoàn lại sau giám định; 01 đĩa sứ hình tròn, màu trắng, đường kính 31cm; 01 thẻ ATM màu xanh trắng, trên thẻ ghi V1 HOANG DINH BAO TRUNG; 01 ống hút bằng nhựa, trụ tròn, màu xanh, đường kính 0,4cm, dài 11cm; 01 cái bật lửa gas màu bạc, ngoài thân bật lửa có ghi chữ Viva Giang Đ; 04 túi zip nylon màu trong suốt, kích thước mỗi túi (4x4)cm; 01 túi nylon màu trong suốt, loại túi zip, kích thước (18x25 )cm.
- Trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim L4: 01 đầu thu nhãn hiệu Puratech màu đen, kích thước (5,5 x 21,5 x 4)cm.
Tại phần tranh luận: Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã được thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Khoảng 21 giờ, ngày 19/02/2024, tại quán H2, thuộc thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Phan Bá L đã có hành vi mua ma túy loại MDMA và Ketamine, sau khi có ma túy, L bẻ các viên ma tuý loại MDMA thành nhiều mẫu nhỏ rồi đưa cho nhiều người sử dụng bằng cách dùng nước lọc hoặc nước ngọt để uống, sau đó, L đổ ma túy Ketamine ra đĩa sứ rồi nghiền mịn và chia ma túy thành nhiều đường nhỏ để cho mọi người cùng sử dụng.
Trong khi đó, đối với Trần L2, sau khi được L đưa ma túy loại Ketamine để sử dụng xong, L2 có hành vi tự bưng đĩa sứ chứa ma túy cho Lê Thị P1 sử dụng.
Vì vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Trong đó, hành vi của Phan Bá L được quy định tại khoản điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; hành vi của Trần L2 được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.
[3]. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, làm suy thoái nòi giống, băng hoại đạo đức, kéo theo nhiều tệ nạn xã hội và nguyên ngân phát sinh các loại tội phạm khác. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung.
[4]. Về tình tiết tăng nặng: Không có.
[5]. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo; ông nội của Phan Bá L là người có công với cách mạng, thương tật hạng 2/8; Trần L2 có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có bố là ông Trần P đang điều trị bệnh ung thư trực tràng. Do đó, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6]. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để lên cho các bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của mình.
[6.1]. Trong vụ án này, Phan Bá L là người trực tiếp mua ma túy, cung cấp ma túy, đồng thời là người chế biến ma túy cho mọi người cùng sử dụng. Bên cạnh đó, L đã từng bị kết án nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà còn tiếp tục phạm tội. Do đó, phải cách ly Phan Bá L ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để răn đe, phòng ngừa chung và cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
[6.2]. Đối với Trần L2, mặc dù bị cáo có nhân thân xấu, tuy nhiên, trong vụ án này, bị cáo có vai trò thấp và chỉ bị truy tố theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự. Do đó, bị cáo chịu mức hình phạt thấp hơn Phan Bá L là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[7]. Đối với Hoàng Văn L5 là người cung cấp 06 viên ma túy MDMA và ma túy Ketamine cho phòng 8888, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện H đã khởi tố Hoàng Văn L5 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” trong một vụ án khác nên không xem xét trong cùng vụ án này.
[8]. Đối với hành vi của Đào Quốc T1, cả Phan Bá L và Hoàng Văn L5 đều khai báo, L đã trực tiếp đặt vấn đề với Đào Quốc T1 để mua ma túy cho phòng 8888, Đào Quốc T1 đến nói lại với Hoàng Văn L5, sau đó Hoàng Văn L5 đã đưa ma túy để Đào Quốc T1 đưa vào phòng 8888 cho Phan Bá L. Tuy nhiên, Đào Quốc T1 không thừa nhận hành vi này, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện H đang tiếp tục cũng cố chứng cứ, lúc nào điều tra làm rõ sẽ xử lý bằng một vụ án khác.
[9]. Đối với Hoàng Đình Bảo T5 là người cho Phan Bá L mượn thẻ ATM để chế biến ma túy nhưng T5 không biết mục đích L dùng thẻ ATM của mình để chế biến ma túy, vì vậy, không đủ cơ sở để xử lý hình sự đối với Hoàng Đình Bảo T5.
[10]. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào đêm 19/02/2024 tại phòng 8888 quán HTV CLUB của Hoàng Minh V, Mai Xuân C, Nguyễn Tấn Hoàng P2, Lê Thị P1, Đỗ Cao T3, Phạm Văn T2, Nguyễn Tiến Đ1, Nguyễn Văn P3, Nguyễn Bình D, Lê Thị Hoài T4 không cấu thành tội phạm, chỉ vi phạm hành chính quy định tại Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, Công an huyện H đã xử phạt hành chính các đối tượng trên là đúng với quy định của pháp luật.
[11]. Đối với Lê Văn L6, mặc dù đêm 19/02/2024, L6 không sử dụng ma túy tại phòng 8888, tuy nhiên, ngày 18/02/2024 L6 sử dụng ma túy tại thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị nhưng chưa làm rõ được người đã cho L6 sử dụng ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện H đã có văn bản yêu cầu Công an thị trấn L tiếp tục rà soát, xác minh, khi nào có kết quả thì thông báo cho Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện H để xử lý theo đúng quy định của pháp luật.
[12]. Đối với trường hợp của Nguyễn Thị Kim O và Phạm Thị N1: Ngà và O đều trình bày kết quả xét nghiệm nước tiểu của mình dương tính với chất ma túy là do N1 và O tự sử dụng ma túy một mình vào trước đêm 19/02/2024. Do đó, Công an huyện H đã xử phạt hành chính đối với N1 và O về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là đúng với quy định.
[13]. Đối với Nguyễn Văn T6 là chủ cơ sở kinh doanh dịch vụ karaoke HTV CLUB, quá trình mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại quán H2, T6 không biết nên không xử lý trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn T6.
[14]. Đối với số ma túy Ketamine thu được tại phòng 8888 có khối lượng 0,3899g, Phan Bá L mua để những người trong phòng 8888 cùng sử dụng nhưng chưa sử dụng hết thì bị phát hiện, do đó, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H không xem xét trách nhiệm hình sự về tội phạm khác là có căn cứ.
[15]. Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ:
- 2,1961g ma túy Ketamine và số bao gói hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên tịch thu và tiêu hủy.
- 01 đĩa sứ hình tròn, màu trắng, đường kính 31cm; 01 thẻ ATM màu xanh trắng, trên thẻ ghi V1; 01 ống hút bằng nhựa, trụ tròn, màu xanh, đường kính 0,4cm, dài 11cm; 01 bật của gas, ngoài thân bật lửa có ghi chữ Viva Giang Đ; 04 túi zip nylon màu trong suốt, kích thước mỗi túi (4x4)cm; 01 túi nylon màu trong suốt, loại túi zip, kích thước (18x25 )cm, các vật chứng này không còn giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy.
- 01 đầu thu nhãn hiệu Puratech màu đen, kích thước (5,5 x 21,5 x 4)cm, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị Kim L4.
- Các xe ô tô biển kiểm soát: 74A-155.50; 74A-179.76 và 74A-196.87 đã trả lại cho các chủ sở hữu, không ai có ý kiến gì thêm nên không xem xét.
[16]. Các bị cáo bị xử phạt tù nên tiếp tục ban hành quyết định tạm giam các bị cáo trong thời hạn 45 ngày để đảm bảo cho việc thi hành án.
[17]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Phan Bá L, phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt Phan Bá L 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 21/02/2024).
- Áp dụng khoản 1 Điều 255; Điều 17; 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Trần L2 (tên gọi khác: B), phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt Trần L2 (tên gọi khác: B) 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 26/9/2024).
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- 01 (một) túi niêm phong mã số: QT-S MT78CAHL, bên trên đường dẫn niêm phong có hình dấu của Phòng K, Công an tỉnh Q và chữ ký xác nhận của các bên liên quan bao gồm: Ngô Thị T7 và Nguyễn Đức H1. Theo Kết luận giám định số 314/KL-KTHS ngày 27 tháng 02 năm 2024 và Biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 27 tháng 02 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh Q bên trong túi chứa mẫu còn lại sau giám định: 01 (một) túi nilon chứa chất bột màu trắng có khối lượng 1,8392g (một phẩy tám ba chín hai gam) là ma túy loại Ketamine; 01 (một) túi ni lon chứa chất bột màu trắng có khối lượng 0,3569g (không phẩy ba năm sáu chín gam) là ma túy loại Ketamine.
- 01 (một) đĩa sứ hình tròn, màu trắng đường kính 31cm, đĩa sứ đã qua sử dụng (dán kín trong túi nylon trong suốt) (được mở ra từ hộp niêm phong ký hiệu: BGKL311, trên hộp niêm phong có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh Q).
- 01 (một) thẻ ATM màu xanh trắng, trên thẻ ghi V1 HOANG DINH BAO TRUNG (được mở ra từ hộp niêm phong ký hiệu: BGKL311, trên hộp niêm phong có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu nào đó của Phòng K Công an tỉnh Q).
- 01 (một) ống hút bằng nhựa, trụ tròn, màu xanh, đường kính 0,4cm, dài 11cm, đã qua sử dụng (được mở ra từ hộp niêm phong ký hiệu: BGKL 311, trên hộp niêm phong có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh Q).
- 01 (một) cái bật của gas màu bạc, ngoài thân bật lửa có ghi chữ Viva Giang Đ, đã qua sử dụng (được mở ra từ hộp niêm phong ký hiệu: BGKL311, trên hộp niêm phong có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh Q).
- 04 (bốn) túi zip nylon màu trong suốt, kích thước mỗi túi (4x4)cm, đã qua sử dụng (được mở ra từ hộp niêm phong ký hiệu: BGKL311, trên hộp niêm phong có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh Q).
- 01 (một) túi nylon màu trong suốt, loại túi zip, kích thước (18x25)cm, đã qua sử dụng (được mở ra từ hộp niêm phong ký hiệu: BGKL311, trên hộp niêm phong có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh Q).
- Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
Tịch thu và tiêu hủy:
Trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim L4: 01 (một) đầu thu nhãn hiệu Puratech màu đen, kích thước (5,5 x 21,5 x 4)cm, tình trạng đầu thu đã qua sử dụng.
Các vật chứng nêu trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Lăng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29 tháng 10 năm 2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Lăng.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lê Thanh Khánh |
Bản án số 24/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 24/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Pham Bá L tổ chức SDTP chất ma túy
