|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án: 24/2024/ HS-ST. Ngày: 26-11-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA – TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hoa .
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Vân
Ông Nguyễn Ngọc Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Minh Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên
toà: Ông Nguyễn Hồng Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 26/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử sơ
thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2024/HSST ngày 25/10/2024
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31 /2024/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 11
năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H
- Sinh năm: 1991; Căn cước công dân số: [...]; giới
tính: Nam; ĐKNKT: tổ dân phố Q, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề
nghiệp: LĐTD; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch:
Việt Nam; con ông Nguyễn Quý Đ và bà Trần Thị N, chưa có vợ, có 01 con sinh năm
2017, tiền án: Ngày 17/03/2022, bị Tòa án nhân dân quận Kinh Dương, thành phố
Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tiền sự không, bị
cáo bị tạm giữ từ ngày 22/7/2024 đến ngày 28/7/2024 chuyển tạm giam, bị cáo đang
bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Bị hại: Đặng Thùy L – Sinh năm 1995, trú tại 48 phố P, phường P, thành phố T,
tỉnh Thanh Hóa ( vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Chị Vi Thị B – Sinh năm 1994, trú tại SN: 9/48/217, Hoàng Miếu X, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng ( vắng mặt).
- Bùi Mạnh T – Sinh năm 1989, trú tại thôn H, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Nguyễn Văn H bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Do có nhu cầu tiêu xài cá nhân nên ngày 16/7/2024, Nguyễn Văn H sinh ngày 23/12/1991, trú tại thành phố Hải Phòng lên mạng xã hội làm quen với các cô gái nhằm chiếm đoạt tài sản. H tải phần mềm “Cappo” đăng ký tài khoản đặt tên là “Đức T1” và sử dụng hình ảnh người khác để dễ dàng hơn khi kết bạn với các cô gái. Thông qua trang mạng xã hội, H chủ động kết bạn với chị Đặng Thùy L sinh ngày 12/01/1995, trú tại D P, phường P, thành phố T rồi xin số zalo để nói chuyện. H nói với L là nhà H ở đường M, thành phố T, có nhiều cửa hàng quần áo để L tin tưởng H là người ở Thanh Hóa và là người có điều kiện về kinh tế.
Sau khi tạo được lòng tin của L, H hẹn gặp và rủ chị L đi chơi, thì chị L đồng ý, sau đó H bảo L gửi vị trí qua Z cho H và hẹn L tối cùng ngày sẽ qua đón L. Đến trưa cùng ngày (16/7/2024) H rủ chị Vi Thị B, sinh ngày 10/1/1994 trú tại 9 H, phường D, Quận L, thành phố Hải Phòng (là người sống chung với H như vợ chồng) và con gái là Nguyễn Thị Thanh N1, sinh năm 2017 đi từ thành phố Hải Phòng vào thành phố T chơi. H điều khiển xe máy Honda Airblade màu Xám- Bạc, BKS: 15N1 – 265.10 đi từ Hải Phòng chở chị B và cháu N1 đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày vào đến thành phố T. Lúc này H cho chị B và cháu Ngọc Ă tại quán G nằm trên đường B, phường H, thành phố T.
Sau khi vào quán, H bảo chị B đưa cho H chiếc balo và H đi vào nhà vệ sinh thay quần áo, lúc này H mặc quần bò ngố, áo phông màu đen và đội mũ phớt bịt khẩu trang đi ra và nói với chị B là ra ngoài có chút việc, dặn chị B và con ở lại ăn uống tí nữa sẽ quay lại đón. H điều khiển xe máy một mình đi đến đường T (theo định vị L
gửi trước đó) để đón L. Sau khi đón được L, H chở chị L đi lòng vòng nên chị L hỏi đi đâu, H nói ra siêu thị G1, chị L chỉ đường. Khi đến đoạn đường tránh khu vực phía trước cổng Đài phát T2 và truyền hình Thanh Hóa nơi vắng người và xe qua lại thuộc phường Đ, thành phố T.
Lúc này, H thấy L nghe điện thoại của ai đó bằng chiếc điện thoại Iphone 14 promax màu tím, số I: 352301452975861 nên dừng xe lại bên đường, xuống xe lấy lý do hỏi việc chị L đã có chồng mà vẫn đi chơi cùng H, thì chị L nói chưa có chồng. Mục đích của H là để cầm được tài sản là chiếc điện thoại của chị L. Khi cả hai đang đứng nói chuyện ở bên lề đường H yêu cầu chị L đưa điện thoại để H kiểm tra.
Sau khi lấy được điện thoại của chị L, lúc này chị L liên tục yêu cầu H trả lại điện thoại cho mình và nói H không có quyền được kiểm tra điện thoại của mình nhưng H vẫn không trả điện thoại cho chị L nên chị L có lấy một chiếc điện thoại khác trong người ra định quay video lại và gọi điện cho người thân. Lợi dụng sơ hở của chị L nên H liền cầm chiếc điện thoại Iphone 14 của chị L rồi nhanh chóng ngồi lên xe nổ máy tăng ga bỏ chạy, chị L đuổi theo nhưng không kịp. Sau khi lấy điện thoại xong, H quay lại đón chị B và con rồi đi về thành phố Hải Phòng.
Ngày 17/7/2024, H một mình đến quán điện thoại Tùng B1 của anh Bùi Mạnh T sinh năm 1989, trú tại H, Hồ N, A, thành phố Hải Phòng bán chiếc điện thoại trên với giá 8.000.000đ (tám triệu đồng) rồi tiêu xài cho cá nhân hết. (Bút lục số: 02-03; 10; 37-55; 56-71; 72-77; 86-95).
Đến ngày 22/7/2024, nhận thức được hành vi phạm tội của mình nên Nguyễn Văn H đã đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố T xin đầu thú về hành vi nêu trên. Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã tiến hành lập biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú và tạm giữ tài sản, đồ vật của H gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, có số IMEI: 353818084068442, có lắp sim số: 0523430686, tình trạng: đã qua sử dụng. (Bút lục số: 102,103). Ngày 23/7/2024, làm việc với anh Bùi Thanh T3 là chủ cửa hàng điện thoại Tùng B nơi H đem chiếc điện thoại của chị L đi bán lấy tiền tiêu xài, anh T3 tự nguyện giao nộp: 01 (một) điện thoại di động Iphone 14 Pro max, màu tím, có số IMEI: 352301452975861, tình trạng: đã qua sử dụng. (Bút lục số: 96-97)
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 63/KL-HĐĐGTS ngày 25/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản U xác định chiếc điện thoại Iphone 14 Promax màu tím, số Imei: 352301452975861 có trị giá 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng). (Bút lục số: 77)
Tiến hành lập biên bản kiểm tra điện thoại thu giữ của H và điện thoại của chị L: Đối với điện thoại của chị L kiểm tra có các đoạn hội thoại giữa hai tài khoản Đặng Thùy L và tài khoản Đức T1 trên ứng dụng C phù hợp với lời khai của chị L và của H. (Bút lục số: 56-62). Đối với điện thoại của H kiểm tra không phát hiện gì do đối tượng khai nhận sau khi thực hiện hành vi phạm tội do lo sợ bị truy vết tài khoản nên đã xóa hết cuộc hội thoại và ứng dụng Cappo. Cơ quan CSĐT đã cho H tiếp cận với tài liệu là hình ảnh cuộc hội thoại trò chuyện trích xuất từ máy điện thoại của chị L thì H đã thừa nhận đó là cuộc hội thoại giữa H và chị L. (Bút lục số: 40-45).
- Về vật chứng và đồ vật thu được đã xử lý gồm:
Trả lại cho chị Nguyễn Thị L1 là chủ sở hữu hợp pháp 01 (một) điện thoại di động Iphone 14 Pro max, màu tím, có số IMEI: 352301452975861, tình trạng: đã qua sử dụng. (Bút lục số: 101-102).
Chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa để bảo quản, chờ xử lý theo quy định của pháp luật: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, số IMEI: 353818084068442, có lắp sim số: 0523430686, điện thoại đã qua sử dụng, được cho vào 01 phong bì thư, kích thước phong bì 23 x 17 cm, tại góc bên trái phong bì có chữ “Công an thành phố T”, được dán kín các góc và được đóng dấu giáp lai hình tròn của Cơ quan CSĐT Công an thành phố T, có chữ ký của Trần Văn T4, Phạm Tiến Đ1, Vũ Thị B2 và Nguyễn Văn H.
Quá trình điều tra xác định, chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, BKS: 15N1-265.10 Nguyễn Văn H đã sử dụng để đi vào Thanh Hóa để thực hiện hành vi phạm tội là tài sản hợp pháp của chị Vi Thị B. Việc H sử dụng chiếc xe để thực hiện hành vi phạm tội, chị B không biết. Do đó, Cơ quan CSĐT không thu giữ phương tiện nêu trên (Bút lục số: 80-92).
- Phần trách nhiệm dân sự: Chị Đặng Thùy L và chị Vi Thị B sau khi nhận lại tài sản là chiếc điện thoại và chiếc xe máy thì không có thêm yêu cầu gì. Anh Bùi Mạnh
T đã tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại cho Cơ quan CSĐT và cũng không có thêm yêu cầu gì.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ diễn biến sự việc về hành vi phạm tội của mình như nội dung của bản cáo trạng và kết luận của Cơ quan CSĐT Công an thành phố T.
Cáo trạng số 311/CTr - VKS ngày 23/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố các bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 của BLHS.
Phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 24 tháng đến 30 tháng tù, tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus thu của bị cáo, bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh và cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để sớm được trở về đoàn tụ cùng gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án nội dung đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa và của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và không có khiếu nại gì cần được tiến hành theo thủ tục chung.
[2]. Các căn cứ là tình tiết định tội đối với bị cáo: Trên cơ sở lời khai của bị cáo tại phiên tòa và lời khai trước đây bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra, báo cáo và lời khai của bị hại, lời khai của người người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Vào tối ngày 16/7/2024, tại đoạn đường phía trước C và truyền hình Thanh Hóa thuộc phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, Nguyễn Văn H đã tạo lý do, lợi dụng
sở hở của chị Đặng Thùy L để cướp giật tài sản là chiếc điện thoại Iphone 14 Pro max, màu tím, có số IMEI: 352301452975861, tình trạng: đã qua sử dụng có trị giá 20.000.000₫ (hai mươi triệu đồng), sau đó đem về thành phố Hải Phòng bán được 8.000.000đ (tám triệu đồng) lấy tiền tiêu xài cá nhân hết.
Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 của BLHS.
Đối với chị Vi Thị B là người sống chung với H như vợ chồng. Khi được H rủ vào Thanh Hóa để đi chơi thì chị đồng ý đi cùng ngoài ra quá trình, diễn biến hành vi phạm tội của H chị B không biết hoặc giúp sức gì cho H. Đối với anh Bùi Thanh T3 Cơ quan CSĐT đã xác minh làm rõ anh T3 không có dấu hiệu về hành vi “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” Cơ quan CSĐT không xử lý những người này là có căn cứ.
[3]. Tính chất vụ án: Trong vụ án này bị cáo phạm tội có chủ định từ trước, đã tạo ra lý do làm cho bị hại người có tài sản mất cảnh giác lấy tài sản và tìm cách dùng xe máy nhanh chóng tẩu thoát. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến trật tự trị an nói chung mà còn xâm phạm đến tài sản của người khác nói riêng. Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng do vậy, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo.
[4]. Về trách nhiệm hình sự (TNHS) của bị cáo: Nguyễn Văn H có 01 tiền án chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS là “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ TNHS là thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội đã đến Công an thành phố T đầu thú được quy định tại điểm s khoản 1và khoản 2 Điều 51 của BLHS. Vì bị cáo có nhân thân xấu do vậy, cần áp dụng Điều 38 của BLHS để cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để có đủ điều kiện cải tạo sớm trở thành người lương thiện.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt, đã được thu hồi trả cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì cần được công nhận.
Đối với khoản tiền 8.000.000đ bị cáo bán điện thoại cho anh Bùi Mạnh T tại Cơ quan Điều tra anh T không yêu cầu cần được chấp nhận.
[6] Đối với chiếc điện thoại di động của bị cáo nhãn hiệu Iphone 7 Plus, số IMEI: 353818084068442, có lắp sim số: 0523430686, điện thoại đã qua sử dụng, là phương tiện dùng vào việc phạm tội cần được tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, biểm kiểm soát 15N1 – 265.10 là xe của chị Vi Thị B, H đã sử dụng vào việc phạm tội chị B không biết, Cơ quan điều tra không thu giữ cần được chấp nhận.
[7]. Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ; khoản 1 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS.
Căn cứ khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 136 của BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn H 27 ( hai bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/7/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Công nhận bị hại đã nhận đủ tài sản do bị cáo chiếm đoạt và không có yêu cầu gì.
Công nhận anh Bùi Mạnh T không yêu cầu bị cáo phải thanh toán lại khoản tiền 8.000.000₫ là tiền mua điện thoại của bị cáo.
- Về vật chứng: Tịch thu sung nộp Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, số IMEI: 353818084068442, có lắp sim, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy móc bên trong, hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận số 08/2025/THADS ngày 24/10/2024.
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án./
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hoa |
Bản án số 24/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA – TỈNH THANH HÓA về cướp giật tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 24/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA – TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H
