|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 24/2024/HS - ST
Ngày 14/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Thanh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quách Xuân Giai
Bà Chu Thị Thi
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Triệu Giang - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Vi Văn Luận - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2024/TLST-HS, ngày 10 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Phan Thanh Đ - Tên gọi khác: Không, sinh ngày 10 tháng 5 năm 2001 tại huyện T, tỉnh Bắc Giang.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn M, xã A, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Phan Văn T và bà Nguyễn Thị H; Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/6/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
Anh Hoàng Đình L, sinh năm 1987 - Trú tại: Thôn Đ, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
1
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Phan Văn T, sinh năm 1979 - Trú tại: Thôn M, xã A, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Có mặt
Người làm chứng:
Ông Bùi Văn G, sinh năm 1974 - Trú tại: Thôn N, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Thanh Đ sinh năm 2001, trú tại thôn M, xã A, huyện T, tỉnh Bắc Giang làm công việc cộng tác với các cơ sở kinh doanh để tư vấn và lắp đặt các thiết bị kỹ thuật về âm thanh cho khách hàng, ngoài ra Đ còn tự kinh doanh thêm bằng cách đăng quảng cáo bán các thiết bị âm thanh trên các tài khoản mạng xã hội của Đ, khi có khách hàng đặt mua, Đ sẽ liên hệ với các cơ sở cung cấp và lấy hàng bán lại hoặc trực tiếp lắp đặt cho khách hàng.
Cuối tháng 5/2024, Phan Thanh Đ sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook tên “Dat Tuan” đăng quảng cáo bán thiết bị âm thanh MIXER XR16 lên trang cá nhân của mình. Ngày 01/6/2024, anh Hoàng Đình L, sinh năm 1987, trú tại thôn Đ, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn sử dụng tài khoản Facebook mang tên “Điện máy Linh T3” nhắn tin cho Đ qua ứng dụng Messenger và gọi vào số thuê bao 0942.198.402 của Đ để hỏi mua thiết bị âm thanh MIXER XR16. Sau đó, anh L kết bạn với Đ qua mạng xã hội Zalo qua số thuê bao 0942.198.402 với tài khoản có tên là “Tiến Đạt”, tiếp tục trao đổi thông tin về thiết bị, khi trao đổi với anh L thì Đ sử dụng tên giả là "T1".
Ngày 03/6/2024, anh L đặt mua 01 bộ thiết bị âm thanh MIXER XR16 của Đ với giá 8.000.000 đồng và thống nhất phương thức thanh toán tiền và chuyển hàng, theo đó anh L cung cấp địa chỉ nhận hàng là "Điện máy L, B - P - Bắc Kạn, số điện thoại người nhận 0978.733.xxx" và yêu cầu Đ chuyển hàng qua xe khách tuyến đi thẳng về huyện P, tỉnh Bắc Kạn, nhà xe Quân Tựu T2 (sau đổi tên là nhà xe L1), số điện thoại 0972.422.xxx. Hai bên thống nhất, khi Đ gửi hàng cho xe khách phải chụp ảnh gửi cho anh L để xác nhận, sau khi xác nhận anh L sẽ trả tiền cho Đ bằng cách chuyển tiền qua số tài khoản do Đ cung cấp là số 375.861.198.888, ngân hàng Thương mại cổ phần T5 (viết tắt là T6).
Sau khi anh L đặt mua thiết bị âm thanh MIXER XR16, Đ nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền của anh L bằng cách không gửi đúng thiết bị âm thanh MIXER XR16, mà gửi những đồ vật khác cho anh L, Đ lấy vỏ thùng bia 333 có sẵn trong phòng trọ của mình, tự mình cắt dán và cho vào trong hộp 02 vỏ chai nhựa đã qua sử dụng và 04 lon bia 333 chưa qua sử dụng, đóng gói thành kiện hàng, bên ngoài kiện hàng Đạt dán giấy và ghi thông tin với nội dung "Em T1 TN. Gửi hàng: Anh Điện Máy Linh T3. SĐT 0968.733.xxx. Đ.c Bộc B - P - Bắc Kạn. Hàng điện tử xin nhẹ tay. MIXRE XR-16 FULL".
Sáng 04/6/2024, Đ để hộp hàng tại trước cửa phòng trọ của Đ, địa chỉ số nhà D, ngõ A, đường T, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, rồi đi về nhà tại tỉnh Bắc Giang, sau đó gọi điện thoại cho người giao hàng (không quen biết với Đ) đến lấy hàng đem đi gửi, Đ nhắn tin cho người giao hàng là khi gửi hàng lên xe thì chụp ảnh và gửi lại cho Đ. Sau đó người giao hàng gửi hàng lên xe khách tuyến P - Thái Nguyên là nhà xe Lường Kính do anh Bùi Văn G sinh năm 1974, trú tại thôn N, xã B, huyện P làm lái xe và chụp ảnh gửi cho Đ, Đ gửi lại hình ảnh cho anh L qua tài khoản Zalo. Sau khi nhận được hình ảnh của Đ và gọi điện xác nhận với nhà xe L1, anh L đã chuyển cho Đ số tiền 8.000.000 đồng qua số tài khoản của anh L số 860.266.663.8888 mở tại ngân hàng N (viết tắt là A) vào số tài khoản 375.816.198.888 của Đ mở tại ngân hàng T6, tên chủ tài khoản là PHAN THANH D, sau khi nhận được tiền từ anh L, Đ vào ứng dụng ngân hàng T6 trên điện thoại của Đ để chuyển số tiền 8.000.000 đồng sang tài khoản 999.686.839.9999 của Đ mở tại ngân hàng Q (viết tắt là M). Sau đó, Đ xóa tài khoản trên mạng xã hội Zalo, F và bỏ số điện thoại 0942.198.xxx của Đ đã dùng để liên lạc với anh L, nhằm mục đích chặn liên lạc với anh L để chiếm đoạt toàn bộ số tiền mà anh L đã chuyển cho Đ.
Sau khi nhận được hàng từ xe khách Lường Kính, kiểm tra chỉ thấy 04 lon bia 333 chưa qua sử dụng và 02 vỏ chai nhựa gồm 01 vỏ chai nhựa trà xanh 0 độ và 01 vỏ chai nhựa thức uống ion đều đã qua sử dụng, xác định đã bị lừa, nên ngày 26/6/2024 anh Hoàng Đình L đến trình báo vụ việc tại Cơ quan CSĐT Công an huyện P đề nghị giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.
Ngày 28/6/2024, biết vụ việc đã bị phát hiện, Phan Thanh Đ đã đến đầu thú tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P.
Ngày 29/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P tiến hành khám nghiệm hiện trường, xác định: Hiện trường nơi Đ đóng kiện hàng không đúng với thỏa thuận để gửi cho anh L nhằm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tại phòng trọ số B thuộc dãy nhà trọ của bà Mai Thị T4, ngõ A, đường T, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
Quá trình điều tra vụ án, bị cáo Phan Thanh Đ đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, do không có tiền tiêu sài nên đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là số tiền 8.000.000 đồng của anh L. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự đầu thú về hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Hoàng Đình L yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 8.000.000 đồng, bị cáo đã tác bố đẻ là ông Phan Văn T bồi thường cho bị hại số tiền 8.000.000 đồng. Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Vật chứng, tài sản tạm giữ của vụ án:
3
+ 01 hộp giấy bằng vỏ thùng bia 333 có kích thước 16,5cm x 12cm x 14cm bên trong có 04 lon bia 333 chưa qua sử dụng; 01 vỏ chai nhựa trà xanh 0 độ đã qua sử dụng; 01 vỏ chai nhựa thức uống bổ sung ion đã qua sử dụng.
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 14 Pro max. Số Emei: 357.397.703.766.351 và 357.397.703.263.797, bên trong gắn 01 sim (Loại ESIM) nhà mạng Viettel số thuê bao 0886.908.xxx, tạm giữ của Phan Thanh Đ, niêm phong trong phong bì niêm phong ký hiệu Đ1.
+ 01 căn cước công dân số [...] mang tên Phan Thanh Đ.
Các vật chứng, tài sản trên hiện đang được bảo quản theo quy định.
Tại bản cáo trạng số 23/CT-VKSPN ngày 09/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm để xét xử bị cáo Phan Thanh Đ về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án và nội dung bản cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Thanh Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
a) Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Phan Thanh Đ từ 06 đến 09 tháng tù.
Phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000đ đến 11.000.000đ để nộp ngân sách Nhà nước.
b) Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Hoàng Đình L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phan Văn T không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.
c) Xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định.
d) Án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
4
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người liên quan và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có cơ sở kết luận:
Trong các ngày từ 01/6/2024 đến ngày 03/6/2024 bị cáo Phan Thanh Đ sử dụng điện thoại IPHONE 14 PROMAX của bị cáo đăng nhập vào mạng xã hội Facebook tư vấn bán thiết bị điện tử MIXER XR16 cho anh Hoàng Đình L, trú tại thôn Đ, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn, sau khi anh L đặt mua, bị cáo Phan Thanh Đ đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của anh L. Ngày 04/6/2024, bị cáo Phan Thanh Đ đã dùng thủ đoạn gian dối bằng cách đóng gói và gửi cho anh Hoàng Đình L 04 lon bia 333 chưa qua sử dụng và 02 vỏ chai nhựa gồm 01 vỏ chai nhựa trà xanh 0 độ và 01 vỏ chai nhựa thức uống ion, hai bên thống nhất, khi Đ gửi hàng cho xe khách phải chụp ảnh gửi cho anh L để xác nhận, sau khi xác nhận anh L sẽ trả tiền cho Đ bằng cách chuyển tiền qua số tài khoản do Đ cung cấp là số 375.861.198.888, ngân hàng Thương mại cổ phần T5 (viết tắt là T6). Sau khi gói hàng được gửi lên xe khách Đ gửi lại hình ảnh cho anh L qua tài khoản Zalo, sau khi nhận được hình ảnh của Đ và gọi điện xác nhận với nhà xe L1, anh L đã chuyển cho Đ số tiền 8.000.000 đồng qua số tài khoản của anh L số 860.266.663.8888 mở tại ngân hàng N (viết tắt là A) vào số tài khoản 375.816.198.888 của Đ mở tại ngân hàng T6, tên chủ tài khoản là PHAN THANH D, sau khi nhận được tiền từ anh L, Đ vào ứng dụng ngân hàng T6 trên điện thoại của Đ để chuyển số tiền 8.000.000 đồng sang tài khoản 999.686.839.9999 của Đ mở tại ngân hàng Q (viết tắt là M). Sau đó, Đ xóa tài khoản trên mạng xã hội Zalo, F và bỏ số điện thoại 0942.198.xxx của Đ đã dùng để liên lạc với anh L nhằm mục đích chặn liên lạc với anh L để chiếm đoạt toàn bộ số tiền mà anh L đã chuyển cho Đ.
Bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của anh Hoàng Đình L bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3]. Xét tính chất nghiêm trọng, mức độ phạm tội của bị cáo thấy.
Mặc dù nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị, nhưng do muốn có tiền tiêu sài nên bị cáo đã bất chấp. Hành vi của bị cáo còn gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự xã hội nói chung và huyện P nói riêng, do vậy cần phải có hình phạt xứng đáng với hành vi mà bị cáo đã gây ra.
Khi thực hiện hành vi bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Điều 174 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
[4]. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Bị cáo có nhân thân tốt, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tác động bố đẻ bồi thường cho bị hại, bị cáo đã chủ động đến cơ quan công an đầu thú, bị cáo có ông ngoại là ông Nguyễn Mạnh H1 được Nhà nước tặng huy chương kháng chiến hạng nhì, do vậy bị cáo được hưởng 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, các quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và đảm bảo tính giáo dục, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh xác định gia đình bị cáo không thuộc hộ nghèo, cận nghèo, do vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo để nộp ngân sách Nhà nước và để răn đe phòng ngừa chung.
[5]. Về vật chứng của vụ án:
01 hộp giấy bằng vỏ thùng bia 333 có kích thước 16,5cm x 12cm x 14cm bên trong có 04 lon bia 333 chưa qua sử dụng; 01 vỏ chai nhựa trà xanh 0 độ đã qua sử dụng; 01 vỏ chai nhựa thức uống bổ sung ion đã qua sử dụng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
6
01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 14 Pro max. Số Emei: 357.397.703.766.351 và 357.397.703.263.797, bên trong gắn 01 sim (Loại sim điện tử ESIM) của nhà mạng Viettel số thuê bao 0886.908.xxx, tạm giữ của Phan Thanh Đ, niêm phong trong phong bì niêm phong ký hiệu Đ1. Chiếc điện thoại này bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, còn chiếc sim gắn bên trong chiếc điện thoại(Loại sim điện tử ESIM) của nhà mạng Viettel số thuê bao 0886.908.xxx không liên quan đến hành vi phạm tội, tuy nhiên bị cáo không yêu cầu lấy lại, do vậy cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước chiếc điện thoại này cùng với chiếc sim V số thuê bao 0886.908.663.
01 căn cước công dân số [...] mang tên Phan Thanh Đ. Đây là giấy tờ tùy thân của bị cáo, do vậy cần trả lại cho bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại anh Hoàng Đình L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phan Văn T không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về biện pháp tư pháp
Ngày 10/10/2024 bị cáo đã tác động cha đẻ là ông Phan Văn T nộp vào Chi cục thi hành án dân sự huyện Pác Nặm số tiền 10.000.000đ theo biên lai thu số 0001975. Do vậy cần tạm giữ số tiền này để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
[8]. Đánh giá về quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiểm sát: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn tại phiên tòa giữ nguyên Quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng, quan điểm truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ. Mức hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
[9]. Xem xét, đánh giá hành vi của những người liên quan.
Đối với người Shipper đã giúp bị cáo gửi gói hàng lên xe nhưng bị cáo không quen biết, không xác định được nhân thân, lai lịch của người này nên không có cơ sở xác minh, làm rõ.
[10]. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Tuyên bố bị cáo Phan Thanh Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
[2]. Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015.
[3]. Xử phạt bị cáo Phan Thanh Đ 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/6/2024.
7
Hình phạt bổ sung: Xử phạt bị cáo Phan Thanh Đ 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
[4]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Hoàng Đình L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phan Văn T không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5]. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy 01 hộp giấy bằng vỏ thùng bia 333 có kích thước 16,5cm x 12cm x 14cm bên trong có 04 lon bia 333 chưa qua sử dụng; 01 vỏ chai nhựa trà xanh 0 độ đã qua sử dụng; 01 vỏ chai nhựa thức uống bổ sung ion đã qua sử dụng.
Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 14 Pro max. Số Emei: 357.397.703.766.351 và 357.397.703.263.797 gắn bên trong một sim Viettel (Loại sim điện tử ESIM), số thuê bao 0886.908.663 tạm giữ của Phan Thanh Đ niêm phong trong phong bì niêm phong ký hiệu Đ1.
Trả lại cho bị cáo Phan Thanh Đ 01 căn cước công dân số [...] mang tên Phan Thanh Đ.
(Số lượng, tình trạng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/10/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện P, tỉnh Bắc Kạn và Chi cục thi hành án dân sự huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn).
Tạm giữ số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) tại biên lai thu số 0001975 ngày 10/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Pác Nặm để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
[6]. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
[7]. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhân: - VKSND huyện Pác Nặm. (01b) - TAND tỉnh Bắc Kạn. (01b) - VKSND tỉnh Bắc Kạn. (01b) - Bộ phận hồ sơ CA huyện Pác Nặm. (03b) - Chi cục THADS huyện Pác Nặm. (01b) - Sở Tư pháp. (01b) - Bị cáo. (01b) - Bị hại (01b) - Người có QLNVLQ (01) - Lưu hs; |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Hà Thanh Tuấn |
9
Bản án số 24/2024/HS - ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 24/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thanh Đ "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
